Tóm tắt: Quyền bào chữa của người bị buộc tội được các Thẩm phán Toà án Tối cao Hoa Kỳ phát triển, mở rộng liên tục và còn hiểu là quyền được bào chữa hiệu quả. Thừa nhận và bảo đảm quyền được bào chữa hiệu quả ngoài duy trì thủ tục tố tụng công bằng còn hướng tới sự khách quan, chính xác trong phán quyết của Toà án, tạo dựng niềm tin đối với hoạt động của cơ quan tư pháp. Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của quyền được bào chữa hiệu quả và việc bảo đảm quyền này tại Hoa Kỳ cho phép rút ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện chế định quyền bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đáp ứng mục tiêu bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng.
Từ khoá: quyền bào chữa, tố tụng hình sự, xét xử công bằng, quyền được bào chữa hiệu quả, Luật sư
Abstract: The right of the accused to the assistance of counsel has been continuously developed and expanded by the Justices of the Supreme Court of the United States, and it is also understood as the right to the effective assistance of counsel. In addition to maintaining due process, recognizing and ensuring the right to effective assistance of counsel will also promote the objectivity and accuracy of courts’ judgments, gaining faith in the judicial system. Studying of the emergence and development of the right to effective assistance of counsel, as well as the mechanisms for its enforcement in the United States, provides a basis for drawing lessons for the development and refinement of the right to defense in Vietnamese criminal procedure, ensuring democratic and fair judicial proceedings.
Keywords: Right to Counsel, Right to Defense, Criminal Procedure, Due Process, Fair trial, Right to Effective assistance of counsel, counsel
Mô hình tố tụng tranh tụng tại Hoa Kỳ với mục tiêu kiểm soát tội phạm trong khi đồng thời duy trì một quy trình thủ tục tố tụng công bằng[1]. Để duy trì thủ tục tố tụng công bằng đó, theo quan điểm của các Thẩm phán và luật gia Hoa Kỳ, phiên tòa công bằng (fair trial) là một phiên xét xử được thực hiện bởi “một Thẩm phán trung lập, một bồi thẩm đoàn vô tư, …”.[2] Bên cạnh các yếu tố này, xuất phát từ quan điểm cho rằng “bị cáo gần như không có cơ hội nào chống trả lại các cáo buộc từ nhà nước nếu như phải tự mình thực hiện việc bào chữa”[3], các nhà lập pháp Hoa Kỳ đồng thời ghi nhận rằng sự hiện diện của Luật sư là một yếu tố thiết yếu để đảm bảo việc xét xử được diễn ra một cách công bằng.[4] Từ đó, quyền được Luật sư hỗ trợ - The Right to Counsel đã được các nhà lập hiến Hoa Kỳ ghi nhận tại Tu Chính Án số 6 (6th Amendment) để trở thành một quyền hiến định của mọi công dân Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc chỉ định Luật sư hoặc cho phép Luật sư hiện diện, hoặc việc cơ quan công tố và cảnh sát chỉ tiến hành thông báo tới Luật sư của bị cáo là không đủ[5]. Tại Hoa Kỳ, quyền được Luật sư trợ giúp phải được hiểu là “quyền được Luật sư hỗ trợ đắc lực”[6] và “quyền bào chữa” được ghi nhận trong Tu Chính Án số 6 được các Thẩm phán Toà án liên bang phát triển mở rộng và hiện nay“phải được hiểu là quyền bào chữa hiệu quả”[7].
Quyền được bào chữa hiệu quả trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ được ghi nhận thông qua các án lệ và bao gồm hai nội dung: quyền có Luật sư bào chữa và quyền được Luật sư bào chữa hiệu quả. Nghiên cứu án lệ đề cập đến quyền được bào chữa hiệu quả tại Hoa Kỳ dưới góc độ lịch sử cho các nhà nghiên cứu pháp lý Việt Nam góc nhìn đa chiều, từ đó rút ra kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo đảm tố tụng tư pháp công bằng, đáp ứng mục tiêu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền.
1.1. Quyền có Luật sư bào chữa
Xuất phát từ mục tiêu bảo đảm quyền con người cũng như sự công bằng trong xét xử giữa bị cáo và công tố viên (cơ quan công tố), ngay tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội Hoa Kỳ (the Continental Congress) đã cân nhắc việc mọi người sẽ nhận được sự hỗ trợ pháp lý từ Luật sư cũng như tạo ra một “sân chơi” công bằng trong các phiên tòa hình sự[8]. Năm 1791, quốc hội Hoa Kỳ đã trao cho người bị buộc tội quyền bào chữa ghi nhận tại Tu Chính Án số 6 của Hiến pháp với nội dung: “Trong mọi cáo buộc hình sự, bên bị buộc tội (bị cáo) có quyền … nhận được sự trợ giúp (tư vấn) pháp lý từ Luật sư để bào chữa/biện hộ cho mình.”.[9]
Tuy nhiên, quyền được Luật sư bào chữa tại Tu Chính Án số 6 của Hoa Kỳ trong những giai đoạn đầu chưa có giá trị lớn như chúng ta biết ngày nay[10]. Ở thời kỳ đầu, tầm nhìn của những nhà lập pháp đầu tiên tại Hoa Kỳ vẫn còn rất hạn chế khi họ chỉ hướng tới việc bảo đảm rằng những người có khả năng thuê được Luật sư sẽ có quyền duy trì sự hiện diện và nhận sự bào chữa từ Luật sư của mình tại tòa hoặc phiên xét xử[11]. Trải qua một khoảng thời gian áp dụng tương đối dài, pháp luật Hoa Kỳ về quyền được Luật sư bào chữa được mở rộng vượt ra khỏi mục đích ban đầu là cho phép những người có khả năng chi trả cho Luật sư được duy trì sự trợ giúp của Luật sư tại tòa. Với quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ (Tu Chính Án số 6) và các đạo luật liên bang khác (ví dụ: Phần 35 của Đạo luật Tư pháp Hoa Kỳ năm 1789; Đạo luật Tư pháp ban hành ngày 30 tháng 4 năm 1790), cá nhân bị xét xử về các tội phạm nghiêm trọng có thể bị áp dụng hình phạt tử hình (capital offense – capital crime)[12] trong hệ thống pháp luật liên bang sẽ được chỉ định Luật sư để bào chữa cho mình[13]. Trong vụ án Powell kiện Bang Alabama năm 1932, thông qua lập luận của mình, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã khẳng định lại rằng: “ …, đối với các tội phạm nghiêm trọng, khi bị cáo không thể có khả năng thuê Luật sư cũng như không đủ năng lực (do sự không hiểu biết, thất học, kém phát triển trí tuệ, mù chữ hoặc các trường hợp tương tự) để tự mình bào chữa thì trách nhiệm của Tòa án, cho dù có được bị cáo yêu cầu hay không, là phải chỉ định Luật sư cho bị cáo”[14].
Một vài năm sau phán quyết Powell kiện Alabama năm 1932, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tiếp tục phát triển phạm vi áp dụng của quyền được Luật sư bào chữa trong vụ Johnson kiện Zerbst năm 1938 (xét xử đối với tội phạm nghiêm trọng hay trọng tội – felony). Một mặt, giống vụ Powell kiện Bang Alabama năm 1932, các Thẩm phán xét xử vụ Johnson kiện Zerbst năm 1938 đã tái khẳng định vai trò quan trọng của Luật sư khi lập luận rằng các Luật sư chính là “rào cản thiết yếu để chống lại việc tước đoạt quyền con người một cách tùy tiện hoặc bất công”, và sự hỗ trợ pháp lý từ Luật sư là “cần thiết để đảm bảo những quyền cơ bản của con người như quyền được sống và quyền tự do”[15]. Các Thẩm phán của Tòa án Tối cao thể hiện mong muốn tạo ra tác động to lớn hơn những gì mà họ đã làm được trong vụ Powell kiện Alabama 6 năm trước khi quyết định rằng: “Tu Chính Án số 6 - Quyền được hỗ trợ bởi Luật sư sẽ được duy trì tại tất cả các tòa án liên bang, trong tất cả các thủ tục tố tụng hình sự. Quyền lực và thẩm quyền tước đoạt mạng sống của người bị cáo buộc (bị cáo) sẽ chỉ được tiến hành khi người đó (bị cáo) đã nhận được hoặc từ bỏ quyền được Luật sư trợ giúp.”.[16] Có thể thấy, việc Tòa án Tối cao Hoa Kỳ yêu cầu chỉ định bắt buộc Luật sư cho tất cả các vụ án hình sự ở cấp liên bang còn hàm chứa 2 ý nghĩa chính đó là: (1) tạo ra sự cân bằng trong “cuộc chơi” buộc tội và gỡ tội giữa công tố viên với bị cáo; và (2) thúc đẩy và cải tiến thủ tục tư pháp để hướng tới mô hình tố tụng tranh tụng mà Mỹ vẫn luôn theo đuổi[17]. Quyết định của các Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã góp phần đưa quyền được Luật sư hỗ trợ trong Tu Chính Án số 6 trở nên gần gũi với thực tiễn xét xử hơn, đảm bảo quyền con người nhiều hơn và đồng thời đáp ứng nhu cầu được xét xử công bằng của xã hội Hoa Kỳ tại thời điểm đó, ít nhất là trong xét xử ở tòa án liên bang[18]. Tuy nhiên, các tòa án thuộc các tiểu bang lại không chịu sự điều chỉnh bởi các yêu cầu trong án lệ Johnson kiện Zerbst năm 1938 trong xét xử vụ án hình sự, mà họ (tòa án tiểu bang) vẫn chịu sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật từng tiểu bang[19].
Lịch sử quyền được có Luật sư bào chữa tại Hoa Kỳ không phải luôn trong xu thế phát triển mở rộng mà có những bước “thụt lùi” nhất định và điều này được thể hiện trong vụ Betts kiện Brady năm 1942. Câu hỏi quan trọng nhất trong vụ Betts kiện Brady năm 1942 được các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tập trung giải quyết đó là liệu việc không chỉ định Luật sư bào chữa đối với bị cáo phạm tội hình sự theo luật tiểu bang có phải là một hành vi vi hiến hay không. Với câu hỏi nói trên, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã có cơ hội để sử dụng cũng như gộp các phán quyết trong vụ Powell kiện Bang Alabama và Johnson kiện Zerbst nhằm mở rộng quyền được Luật sư hỗ trợ tại Tu Chính Án số 6 đến mức có thể áp dụng bắt buộc việc chỉ định Luật sư với tất cả tội phạm hình sự được xét xử tại các tiểu bang[20]. Tuy nhiên, các Thẩm phán đã đưa ra một phán quyết được xem như một bước lùi khi xác định rằng quyền được Luật sư hỗ trợ trong Tu Chính Án số 6 không phải là một quyền thiết yếu để đảm bảo xét xử công bằng “trong tất cả các trường hợp”[21], và do đó không có giá trị bắt buộc áp dụng đối với việc xét xử tất cả các tội phạm hình sự ở cấp tiểu bang[22]. Với lập luận như vậy, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ không những thất bại trong việc mở rộng quyền được Luật sư hỗ trợ đến tất cả bị cáo trong vụ án hình sự mà còn đặt ra thêm trở ngại trong xét xử cho các tòa án ở cả cấp liên bang và tiểu bang khi họ phải tiến hành xác định các “trường hợp” mà tòa án phải chỉ định Luật sư để đảm bảo không vi phạm các quy định của hiến pháp Hoa Kỳ[23]. Trong những năm tiếp theo, hệ thống tòa án Hoa Kỳ ở cấp liên bang đã phải vật lộn với vô vàn kháng cáo và yêu cầu hậu xét xử với nội dung là hành vi vi hiến của tòa án cấp bang khi không tiến hành chỉ định Luật sư cho bị cáo trong vụ án hình sự[24]. Trước thực trạng này, vào năm 1963 Tòa án Tối cao Hoa Kỳ quyết định cân nhắc lại phán quyết trong vụ Betts kiện Brady[25].
Vụ Gideon kiện Wainwright năm 1963 có thể được coi là một trong những vụ kiện làm thay đổi nền tư pháp hình sự Hoa Kỳ[26]. Trong vụ kiện này, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao đã đưa ra ba quyết định quan trọng bao gồm: (1) Quyền được Luật sư hỗ trợ theo quy định tại Tu Chính Án số 6 là một quyền thiết yếu và có giá trị áp dụng bắt buộc đối với việc truy tố và xét xử hình sự đối với tất cả tội phạm nghiêm trọng theo pháp luật liên bang và tiểu bang[27]; (2) bị cáo không đủ khả năng chi trả cho Luật sư vẫn phải được hưởng sự trợ giúp pháp lý từ Luật sư để đảm bảo tính công bằng trong xét xử; (3) bác bỏ toàn bộ phán quyết trong vụ Betts kiện Brady năm 1942[28]. Dựa trên đòi hỏi của xã hội đối với việc xét xử các vụ án hình sự, Toà án đã chỉ ra rằng “chính phủ Hoa Kỳ (ở cấp độ liên bang và tiểu bang), đều sử dụng nguồn lực tài chính rất lớn để truy tố và đưa tội phạm ra xét xử” nhằm bảo vệ xã hội, tuy nhiên, ở chiều ngược lại, công dân Hoa Kỳ cũng cần được bảo vệ khỏi việc lạm quyền truy tố của chính phủ (đại diện bởi cơ quan công tố) cho nên “sự xuất hiện của Luật sư trong xét xử vụ án hình sự là điều cần thiết chứ không hề xa hoa”[29]. Dựa trên những phân tích vừa đề cập, tòa án đã ra quyết định (1) và (2) với khẳng định như sau: “Bất kỳ người nào bị triệu tập đến tòa mà lại quá nghèo để có thể thuê Luật sư thì họ không thể được đảm bảo rằng mình sẽ nhận được một phiên xét xử công bằng trừ khi Luật sư được cung cấp cho họ”[30]. Đối với quyết định (3) về việc bác bỏ phán quyết trong vụ Betts kiện Brady năm 1942, tòa Tối cao nhận thấy rằng “phán quyết trong vụ Betts kiện Brady năm 1942 đã đột ngột phá vỡ” các tiền lệ đúng đắn đã được tạo ra trong vụ Powell kiện Alabama năm 1932 cũng như trong Johnson kiện Zerbst năm 1938, và do vậy Tòa án Tối cao đồng quan điểm với “22 tòa án của các bang khác cho rằng phán quyết trong vụ Betts kiện Brady năm 1942 là lỗi thời và cần phải bị hủy bỏ”[31].
Đối với bị cáo là người chưa thành niên, quyền được có Luật sư bào chữa được khẳng định trong vụ án Geralt Gault năm 1967. Các Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ cho rằng bị cáo là người chưa thành niên cần sự hỗ trợ từ Luật sư để giải quyết các vấn đề pháp lý, tìm hiểu kỹ lưỡng các yếu tố khách quan của vụ án, xác định tính hợp pháp của các thủ tục tố tụng cũng như để xác định các nội dung bào chữa và thực hiện việc bào chữa cho bị cáo[32]. Để nhấn mạnh quan điểm này, các Thẩm phán khẳng định “đứa trẻ (bị cáo - người chưa thành niên) sẽ cần sự hướng dẫn của Luật sư trong tất cả các thủ tục tố tụng chống lại mình”.[33] Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đặt ra nghĩa vụ phải thông báo quyền được Luật sư bào chữa cũng như quyền được chỉ định Luật sư tới họ và cha mẹ của họ.[34] Dựa trên phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ Geralt Gault năm 1967, Tòa án phúc thẩm khu vực số 10 lập luận rằng “trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với người chưa thành niên hay người có nhược điểm tâm thần, để đảm bảo thủ tục tố tụng công bằng, nhà nước sẽ đảm nhận vai trò là người giám hộ tối cao vì lợi ích của họ; từ đó đặt ra nghĩa vụ đối với nhà nước là phải đảm bảo những cá nhân đang bị áp dụng biện pháp điều trị bắt buộc được trao cơ hội tiếp cận với luật sư, cung cấp sự trợ giúp trong mọi giai đoạn của quy trình tố tụng”, và từ đó, phán quyết rằng “người có nhược điểm về tâm thần cũng được hưởng sự trợ giúp của Luật sư trong mọi giai đoạn của quy trình tố tụng”.[35]
Năm 1972, phạm vi áp dụng chỉ định Luật sư bào chữa được mở rộng cho các trường hợp phạm tội có thể dẫn đến hình phạt tù thông qua án lệ Argersinger kiện Hamlin. Theo đó, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết khẳng định Tòa án Tối cao Florida đã mắc sai lầm trong quá trình xét xử khi từ chối chỉ định Luật sư bào chữa cho bị cáo bị truy tố với các tội phạm ít nghiêm trọng (có thể chịu hình phạt tù lên đến 6 tháng)[36]. Để đưa ra phán quyết này, thứ nhất, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác định rằng “tính chất phức tạp của tội phạm ít nghiêm trọng (có thể bị phạt tù trong thời gian ngắn - 6 tháng) hay tội phạm nghiêm trọng” hoàn toàn có thể tương đương nhau. Do vậy, Luật sư trở nên cần thiết để đảm bảo “bị cáo hiểu họ đang làm gì, nhận thức được rằng họ có khả năng phải vào tù cũng như đảm bảo họ được cơ quan công tố đối xử một cách công bằng”.[37] Thứ hai, dựa trên các nghiên cứu và các báo cáo tư pháp, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ nhận thấy: (1) số lượng vụ án xét xử tội phạm ít nghiêm trọng có số lượng lớn hơn rất nhiều so với các vụ án xét xử các tội phạm nghiêm trọng có thể tạo ra tâm lý giải quyết vụ án hình sự nhanh chóng, bất chấp kết quả có công bằng hay không[38]; và (2) đa phần các phiên tòa xét xử tội phạm ít nghiêm trọng đều được tổ chức một cách sơ sài và thiếu trách nhiệm[39]. Vì vậy, để đảm bị cáo được xét xử công bằng, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ phán quyết rằng “ngoại trừ trường hợp khước từ quyền được bào chữa bởi Luật sư một cách tự nguyện, không một cá nhân nào có thể bị bỏ tù, với bất kỳ tội danh nào (dù là tội phạm nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng), trừ khi người đó được đại diện bởi Luật sư”.[40] Với phán quyết Argersinger kiện Hamlin, quyền chỉ định Luật sư đã được mở rộng cho các bị cáo bị truy tố với các tội phạm ít nghiêm trọng.
1.2. Quyền được Luật sư bào chữa hiệu quả
Tuy nhiên, nếu như quy định của Tu Chính Án số 6 chỉ dừng lại ở việc cho phép Luật sư xuất hiện trong các giai đoạn của tố tụng hình sự thì các quyền cơ bản của người bị buộc tội sẽ không thể được đảm bảo một cách tốt nhất. Việc trao quyền bào chữa cho người bị buộc tội sẽ là hoàn toàn vô nghĩa nếu như không thể đảm bảo rằng các Luật sư sẽ nỗ lực hết sức để bảo vệ thân chủ của mình[41]. Cụ thể hơn, theo Tòa án Tối cao Hoa Kỳ để đảm bảo tốt nhất quyền được bào chữa của người bị buộc tội thông qua Tu Chính Án số 6 thì “người bị buộc tội không thể bị bỏ mặc với một Luật sư thiếu năng lực”[42]. Vì vậy, quyền được bào chữa (Right to Counsel) phải được hiểu là quyền được bào chữa hiệu quả (Right to Effective Assitance of Counsel)[43].
Quyền được bào chữa hiệu quả được đề cập đầu tiên trong vụ án Powell kiện Bang Alabama năm 1932 khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã sử dụng quyền lực tư pháp của mình để tiến hành xem xét lại vụ án và quyết định trả hồ sơ để xét xử lại do Tòa án Bang Alabama đã thất bại trong việc chỉ định Luật sư cho bị cáo[44]. Để làm rõ quyết định này của mình, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã giải thích rằng mặc dù Tòa án Bang Alabama đã tiến hành chỉ định Luật sư nhưng Luật sư Roddy mà Tòa án Bang Alabama chỉ định “không quen thuộc với kiến thức về tố tụng hình sự của Bang Alabama” và đồng thời Luật sư “không có thời gian chuẩn bị” để có thể hỗ trợ cho các bị cáo[45]. Do vậy, Luật sư mà Tòa án Bang Alabama chỉ định không có đầy đủ khả năng hỗ trợ các bị cáo cũng như Tòa án đã không tạo điều kiện thuận lợi (về thời gian) để các Luật sư có thể hỗ trợ pháp lý “hiệu quả” cho các bị cáo[46]. Trong vụ án này, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ khẳng định tính hiệu quả của hoạt động bào chữa là yêu cầu bắt buộc bảo đảm tố tụng công bằng tại Hoa Kỳ thông qua lập luận: “việc chỉ định Luật sư phải đảm bảo các điều kiện nhất định để Luật sư có thể cung cấp sự trợ giúp pháp lý hiệu quả trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử”[47].Qua lập luận của mình, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao đã tiến hành đánh giá tác động hoạt động của Luật sư trong vụ án hình sự, từ đó gián tiếp chỉ ra tầm quan trọng của Luật sư bào chữa trong việc đảm bảo rằng vụ án hình sự sẽ được xét xử công bằng[48]. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ nhận ra rằng việc chỉ có Luật sư trên danh nghĩa mà không có sự chuẩn bị hay năng lực cần thiết thì việc bào chữa cũng vô ích. Án lệ này khẳng định quyền được có Luật sư bào chữa không chỉ là quyền hình thức mà phải là một quyền có giá trị thực tế và là tiền đề quan trọng xác lập“quyền được bào chữa hiệu quả” trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ nhận định rằng sự hiện diện đơn thuần của Luật sư không thể đảm bảo đầy đủ quyền lợi của người bị buộc tội, “ẩn ý” về việc phải thiết lập những yêu cầu/tiêu chuẩn nhất định đối với năng lực bào chữa của Luật sư[49]để bị cáo được hưởng phiên tòa công bằng thông qua việc bảo đảm “quyền được bào chữa hiệu quả”. Tuy nhiên, việc đưa ra các tiêu chí để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động bào chữa là rất khó khăn với các Toà án. Do đó, thay vì đánh giá tính hiệu quả thì đánh giá về tính không hiệu quả của hoạt động bào chữa, vi phạm Tu chính án thứ Sáu sẽ dễ dàng hơn.
Năm 1945, Thẩm phán Thurman Arnold đã thiết lập một trong những tiêu chuẩn đầu tiên đối với năng lực bào chữa của Luật sư khi đưa ra phán quyết khẳng định rằng quá trình tố tụng công bằng (Due Process) sẽ bị xâm hại khi mà hoạt động bào chữa của Luật sư tệ đến mức biến “quá trình tố tụng thành một trò hề cũng như giễu cợt vào công lý”[50], còn được biết đến với tên gọi là “tiêu chuẩn bào chữa trò hề và giễu cợt” (farce and mockery standard). Sau phán quyết của Thẩm phán Thurman năm 1945, tất cả 11 Tòa án Phúc thẩm (U.S. Circuit Court – U.S. Court of Appeals) đã tiếp nhận tiêu chuẩn kể trên để giải quyết các khiếu nại/yêu cầu của người bị buộc tội đối với hoạt động bào chữa của Luật sư trong quá trình tố tụng[51]. Mặc dù vậy, tiêu chuẩn này được đánh giá là mơ hồ, chủ quan[52], cũng như đặt quá nặng trách nhiệm chứng minh lên bị cáo dẫn đến việc khó áp dụng hoặc áp dụng không thống nhất trên thực tế[53]. Nó thể hiện một sự yếu kém trầm trọng và rõ ràng trong hoạt động của Luật sư bào chữa đến mức bất kỳ người quan sát nào cũng thấy rằng quy trình tố tụng bị biến thành “trò hề”, nó không còn là một phiên tòa công bằng nữa và sự bào chữa hoàn toàn không có ý nghĩa. Tiêu chuẩn khắc nghiệt này dẫn đến hệ quả nhiều bị cáo bị ảnh hưởng bởi sự bào chữa kém chất lượng nhưng không đạt đến mức “trò hề” vẫn không có cơ hội được xem xét lại vụ án của mình mặc dù “quyền được bào chữa hiệu quả” không được bảo đảm.
Bắt đầu từ những năm 1970, các Tòa án Phúc thẩm Hoa Kỳ lần lượt thay thế tiêu chuẩn trên bằng tiêu chuẩn khác[54] như: tiêu chuẩn năng lực hợp lý - reasonably competent standard[55]; tiêu chuẩn năng lực thông thường - normal competency[56] để đánh giá năng lực bào chữa của Luật sư trong vụ án hình sự[57]. Đến năm 1983, Tòa án Phúc thẩm khu vực số 2 trở thành tòa án phúc thẩm cuối cùng hủy bỏ việc áp dụng “tiêu chuẩn bào chữa trò hề và giễu cợt” và tiếp nhận “tiêu chuẩn năng lực hợp lý”[58]để đánh giá quyền bào chữa hiệu quả có được bảo đảm hay không.
Trong khoảng thời gian kéo dài hơn 2 thập kỷ nỗ lực bảo đảm quyền được bào chữa hiệu quả, các tòa án phúc thẩm cố gắng giải thích một cách toàn diện nhất khái niệm “năng lực hợp lý” hoặc “năng lực thông thường của Luật sư”. Ví dụ, Thẩm phán Bazelon của Tòa án Phúc thẩm Quận Columbia đã sử dụng một số tiêu chuẩn bào chữa của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (American Bar Asociation’s Standards for the Defense Function) (Ví dụ: Luật sư phải tham khảo ý kiến của thân chủ mà không được chậm trễ đối với tất cả các vấn đề; Luật sư cần phải giới thiệu tất cả các quyền của thân chủ một cách kịp thời và làm mọi cách có thể để bảo vệ các quyền này; Luật sư cần phải thực hiện các cuộc điều tra cần thiết để làm rõ các yếu tố thực tế và yếu tố pháp lý …)[59]. Mặc dù cũng tiếp nhận tiêu chuẩn năng lực hợp lý, một số Thẩm phán lại cho rằng việc xác định trước các nhiệm vụ của Luật sư bào chữa là không thể vì mỗi vụ án hình sự ẩn chứa những nét đặc trưng riêng. Bên cạnh các tiêu chuẩn do Thẩm phán Bazelon đặt ra ở trên, một số bang hoặc tòa án phúc thẩm khu vực khác lại đặt ra thêm các tiêu chí khác nhau để nhằm đảm bảo rằng hoạt động bào chữa của Luật sư trong vụ án hình sự trở nên hiệu quả nhất (Ví dụ: đòi hỏi phải xác định xem có tồn tại hay không định kiến của Luật sư đối với người bị cáo buộc; …)[60]. Sự bất đồng về quan điểm trong việc giải thích và thiết lập tiêu chuẩn đối với quyền bào chữa hiệu quả giữa các tòa án khu vực đã gây ra rất nhiều xáo trộn cho hoạt động bào chữa của Luật sư tại Hoa Kỳ.
Năm 1984, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra những lập luận pháp lý mang tính bước ngoặt để định hình quyền được bào chữa hiệu quả trong vụ Strickland kiện bang Washington. Đầu tiên, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tái khẳng định lập luận đã được đưa ra trong vụ McMann kiện Richardson năm 1970, theo đó “quyền bào chữa” được ghi nhận trong Tu Chính Án số 6 “phải được hiểu là quyền bào chữa hiệu quả”[61]. Thứ hai, các Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đồng thời xác định các trường hợp vi phạm quy định về quyền bào chữa hiệu quả. Theo đó, chính phủ, hay cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được xác định là vi phạm quyền bào chữa hiệu quả khi cơ quan này thực hiện một số hoạt động can thiệp vào khả năng đưa ra quyết định bào chữa độc lập của Luật sư[62]. Thứ ba, các Thẩm phán cũng đồng thời xác định một chủ thể khác có thể vi phạm quyền bào chữa hiệu quả được ghi nhận trong Tu Chính Án số 6 chính là Luật sư bào chữa. Cụ thể, “Luật sư cũng có thể tước đoạt quyền bào chữa hiệu quả của người bị buộc tội, đơn thuần thông qua việc không cung cấp các hỗ trợ pháp lý đầy đủ (chẳng hạn như trường hợp có xung đột lợi ích thực tế giữa Luật sư và bị cáo)”[63]. Từ lập luận pháp lý này, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã xây dựng một học thuyết để đánh giá hoạt động bào chữa của Luật sư với tên gọi là “tiêu chuẩn Strickland” (Strickland test - Strickland standard)[64] bao gồm 02 yếu tố: 1) chứng minh sự tồn tại của việc bào chữa một cách không đầy đủ (hoặc thiếu hụt) trên thực tế (The Deficient Performance Prong); và 2) chứng minh hoạt động bào chữa không đầy đủ (hay thiếu hụt) của Luật sư gây ra thiệt hại cho bị cáo (The Prejudice Prong)[65].
Vụ án Strickland kiện Washington là một cột mốc pháp lý quan trọng, không chỉ định nghĩa “quyền được bào chữa hiệu quả” mà còn thiết lập một khuôn khổ để đánh giá liệu quyền đó có bị vi phạm hay không. Mặc dù vẫn còn những cuộc tranh luận về tính công bằng và tính thực tiễn của tiêu chuẩn mà nó đặt ra (tiêu chuẩn mơ hồ, không rõ ràng[66]; áp đặt nghĩa vụ chứng minh quá nặng lên bị cáo[67]...), vụ án Strickland đã trở thành án lệ nền tảng cho mọi khiếu nại về “bào chữa kém hiệu quả” trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Bất chấp các chỉ trích của giới luật học Hoa Kỳ, “tiêu chuẩn Strickland”vẫn phát triển dần dần theo thời gian và tồn tại đến ngày nay để đảm bảo bị cáo trong vụ án hình sự được hưởng quyền bào chữa hiệu quả[68].
2.1. Ưu điểm của tố tụng hình sự Hoa Kỳ về quyền được bào chữa hiệu quả
Thông qua những lập luận của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, có thể thấy vai trò của Luật sư trong quá trình xét xử vụ án hình sự nói riêng cũng như tố tụng hình sự Hoa Kỳ nói chung nhằm bảo đảm công bằng trong hoạt động tư pháp. Khi chính phủ sở hữu một đội ngũ công tố viên chuyên biệt thực hiện công việc truy tố thì công dân cũng cần có Luật sư để đối trọng lại với quyền lực của nhà nước[69]. Việc có Luật sư bào chữa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người bị buộc tội trong suốt quá trình tố tụng cũng như thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật khi Luật sư bào chữa còn có vai trò như người đồng hành hỗ trợ không chỉ về mặt pháp lý mà cả về mặt tinh thần cho họ. Mặt khác, tố tụng công bằng còn đòi hỏi hoạt động bào chữa hiệu quả của Luật sư để thực hiện giám sát đối với hoạt động tố tụng của cơ quan buộc tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội cũng như khả năng cho ra kết luận khách quan của Toà án.
Những ưu điểm trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ về quyền được bào chữa hiệu quả có thể tham khảo trong việc đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam bao gồm:
Thứ nhất, tại Hoa Kỳ đã hình thành, ghi nhận và phát triển học thuyết pháp lý về “quyền được bào chữa hiệu quả” (Right to Effective Assistance of Counsel) như là nội dung của quyền bào chữa đồng thời ghi nhận, phát triển các tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả của việc bào chữa.
Thứ hai, quyền có Luật sư bào chữa tại Hoa Kỳ là điều kiện đầu tiên để bảo đảm quyền được bào chữa hiệu quả, duy trì tố tụng công bằng và việc chỉ định Luật sư bào chữa được phát triển, mở rộng đến các bị cáo có khả năng chịu hình phạt tù.
Thứ ba, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã xây dựng các tiêu chuẩn hợp lệ cho việc từ bỏ quyền được bào chữa bởi Luật sư. Trong vụ Johnson kiện Zerbst năm 1938, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác định rằng bị cáo “có thể khước từ quyền được bào chữa bởi Luật sư, tuy nhiên, người khước từ quyền này đòi hỏi phải là người có kiến thức, …” và “Tòa án Liên Bang có nhiệm vụ phải bảo vệ quyền được bào chữa bởi Luật sư của bị cáo, cũng như phải xác định xem liệu bị cáo có đủ hiểu biết và năng lực khi từ chối quyền này hay không; quá trình xác định (năng lực và sự hiểu của bị cáo) nên được ghi lại trong hồ sơ giải quyết vụ án.” Việc từ bỏ quyền được bào chữa bởi Luật sư trở nên hợp lệ khi bị cáo đã hiểu rõ các cáo buộc, phạm vi hình phạt, các nội dung bào chữa khả thi, các tình tiết giảm nhẹ cũng như hiểu một cách tổng quát về toàn bộ vụ án hình sự[70]. Năm 1975, trong vụ Faretta kiện California, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã xây dựng tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá tính hợp pháp của việc từ chối quyền được bào chữa bởi Luật sư. Theo đó, yêu cầu này sẽ hợp lệ khi bị cáo thực hiện một cách tự nguyện, hiểu biết và có ý thức[71]. Trên cơ sở phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, các tòa án phúc thẩm khu vực đã khuyến nghị các Thẩm phán xét xử cần phải thực hiện hoặc tiến hành các cuộc đối thoại chính thức (được ghi nhận trong hồ sơ giải quyết vụ án) để xác định rằng bị cáo đã từ bỏ quyền được bào chữa bởi Luật sư một cách tự nguyện và hiểu biết.
Thứ tư, bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ cũng như tính hiệu quả trong hoạt động bào chữa tại Hoa Kỳ khi quy định việc không có mặt Luật sư bào chữa trong nhiều hoạt động điều tra, sẽ dẫn đến hậu quả chứng cứ bị loại trừ. Trừ trường hợp người bị buộc tội khước từ quyền được hỗ trợ bởi Luật sư một cách tự nguyện, cảnh sát hoặc điều tra viên sẽ không được phép tiến hành một số hoạt động tố tụng đòi hỏi phải có sự tham gia của người bị buộc tội (ví dụ như: hoạt động hỏi cung, hoạt động nhận dạng, …) nếu như không có sự hiện diện hay có mặt của Luật sư[72]. Việc lấy lời khai hoặc thẩm vấn thực hiện không có mặt của Luật sư bào chữa là vi phạm các quy định của Tu chính án số 6 - Quyền được hỗ trợ bởi Luật sư, và đồng thời, các lời khai, phát ngôn cũng những thông tin thu thập được sẽ không được chấp nhận và bị loại trừ[73]. Trong vụ án Massiah kiện Hoa Kỳ năm 1964 các Thẩm phán của Tòa án Tối cao đã trả lời một trong những câu hỏi pháp lý quan trọng nhất đó là liệu lời khai/lời thú tội mà bị cáo cung cấp khi không có sự hiện diện của Luật sư có được chấp nhận là chứng cứ hợp pháp hay không[74]. Học thuyết Massiah quy định rằng “ngay khi giai đoạn tranh tụng của tố tụng hình sự bắt đầu, bị cáo có quyền được đại diện bởi Luật sư bất cứ khi nào người đó bị thẩm vấn”[75].
2.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tại Việt Nam, về mặt chính sách“xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[76] là nhiệm vụ đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó, “bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng” lần đầu tiên được ghi nhận là mục tiêu có tính bắt buộc trong giai đoạn hiện nay.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, nghiên cứu về quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự cũng khẳng định “yêu cầu về tố tụng công bằng là một tiêu chí cốt lõi trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nói chung và bảo đảm quyền của người bị buộc tội nói riêng”[77]. Tố tụng công bằng luôn đi liền với nguyên tắc xét xử công bằng trong đó các quyền tố tụng của người bị buộc tội được bảo đảm. Và hoạt động bào chữa hiệu quả trở thành một yêu cầu tất yếu đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, góp phần tìm ra sự thật khách quan và bảo đảm tính công bằng của quá trình tố tụng.
BLTTHS Việt Nam hiện hành, ngoài bổ sung nội dung Toà án xét xử kịp thời, công bằng vào nguyên tắc tại Điều 25 BLTTHS năm 2015, còn ghi nhận bổ sung nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm với việc thừa nhận sự bình đẳng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu. Các quy định này cho thấy nhà làm luật đã tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng nhằm tăng cường quá trình tranh luận, trao đổi, kiểm tra chứng cứ và chứng minh một cách dân chủ, công bằng để tìm ra sự thật khách quan của vụ án.
Quy định của BLTTHS năm 2015 cho thấy pháp luật Việt Nam về quyền bào chữa có những điểm khá tương đồng với pháp luật Hoa Kỳ: i) Ghi nhận quyền bào chữa cho người bị buộc tội; ii) Có cơ chế để bảo đảm người không có khả năng tài chính hoặc thuộc nhóm yếu thế được tiếp cận sự trợ giúp pháp lý; iii) Cho phép người bào chữa tham gia tố tụng từ các giai đoạn đầu khi giải quyết vụ án dù thời điểm có thể khác nhau; iv) Tiêu chuẩn của Luật sư khi hành nghề và các nguyên tắc, quy định về quyền và nghĩa vụ của Luật sư khi thực hiện hoạt động bào chữa đều được ghi nhận trong các văn bản nhất định (tại Hoa Kỳ là bộ tiêu chuẩn do Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ - ABA ban hành[78]; tại Việt Nam là quyền và nghĩa vụ của người bào chữa quy định trong BLTTHS và các nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ của Luật sư trong Luật Luật sư[79]).
Ngoài những điểm tương đồng trên, có thể thấy sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật khi đề cập đến quyền được bào chữa hiệu quả. Thứ nhất, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam không chính thức đưa ra khái niệm, thuật ngữ về “quyền được bào chữa hiệu quả” và tiêu chuẩn về “bào chữa không hiệu quả”. Pháp luật Việt Nam cũng như thực tế giải quyết các vụ án hình sự trong phạm vi tác giả tìm hiểu cho thấy chưa có trường hợp nào thiết lập tiêu chuẩn để đánh giá tính “không hiệu quả” của việc bào chữa dẫn đến hậu quả phải hủy bỏ bản án. Mặc dù Điều 73 BLTTHS năm 2015 có quy định về trách nhiệm của người bào chữa khi có hành vi vi phạm pháp luật nhưng nếu người bào chữa thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dẫn đến “bào chữa kém hiệu quả” thì người bị buộc tội khó yêu cầu Tòa án hủy bỏ bản án dựa trên lý do đó. Chỉ trong trường hợp quyền bào chữa của người bị buộc tội không được bảo đảm do lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng được xác định là vi phạm nghiêm trọng thì mới là căn cứ để huỷ bản án[80]. Thứ hai, việc chỉ định bào chữa có phạm vi hẹp hơn dừng lại đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình.
BLTTHS năm 2015 được đánh giá đã bảo đảm sự cân bằng nhất định giữa chủ thể bị buộc tội với chủ thể buộc tội là Viện kiểm sát - đại diện cho Nhà nước đồng thời “khẳng định vị thế và vai trò quan trọng của người bào chữa trong quá trình thực hiện chức năng cơ bản của tố tụng hình sự”[81]. Tuy nhiên, theo đánh giá thì “hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn”[82], trong đó có pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa. Trong khi để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới thì Việt Nam phải có “hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”[83].
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật Hoa Kỳ với các lập luận khẳng định sự cần thiết phải bảo đảm quyền được bào chữa hiệu quả, có thể đưa ra một số định hướng ban đầu hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền bào chữa nhằm “bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Thứ nhất, mở rộng các trường hợp chỉ định người bào chữa
Vai trò quan trọng của người bào chữa được khẳng định trong hệ thống tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng tại bất cứ quốc gia nào. Ngoài thực hiện chức năng bào chữa, người bào chữa còn đóng vai trò là người giám sát và đảm bảo công lý sẽ được thực thi và tôn trọng. Ở chiều ngược lại, cơ quan công tố, cơ quan điều tra trong quá trình thực hiện công việc của mình thường có xu hướng cẩn thận hơn trong quá trình thực hiện nghiệp vụ khi có sự hiện diện của Luật sư bào chữa[84]. Một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự cẩn thận đó xuất phát từ nỗi sợ của các cơ quan này đối với những gì mà Luật sư bào chữa (một chủ thể độc lập và không chịu sự kiểm soát của bất kỳ cơ quan nhà nước nào) có thể làm được khi phát hiện ra những sai lầm của họ[85]. Chính vì thế, sự hiện diện của người bào chữa có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế sự quan liêu cũng như tăng cường tính chính xác trong các hoạt động tố tụng. Thậm chí, có thể làm giảm số lượng kháng cáo “cầu may” sau phiên toà sơ thẩm do quá trình tố tụng trước đó luôn có sự hỗ trợ của người bào chữa.
Vì vậy, tác giả cho rằng, người bị buộc tội tại Việt Nam không chỉ được bảo đảm quyền tự bào chữa mà cần được bảo đảm “quyền được có người bào chữa” để người bào chữa thực hiện công việc thuộc chức năng bào chữa một cách hiệu quả, bảo đảm tố tụng công bằng, bảo đảm cho công lý được thực thi. BLTTHS năm 2015 mở rộng diện chủ thể được chỉ định người bào chữa là bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định có mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù. Trên cơ sở nghiên cứu quá trình mở rộng quyền được Luật sư bào chữa của Hoa Kỳ, khẳng định vai trò quan trọng của Luật sư trong quá trình giải quyết vụ án…tác giả đề xuất sửa đổi điểm a Khoản 1 Điều 76 BLTTHS theo hướng mở rộng diện người bị buộc tội được chỉ định bào chữa đến bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng. Trong tương lai, tuỳ thuộc vào sự phát triển của đội ngũ Luật sư, điều kiện kinh tế có thể tiếp tục mở rộng quyền “được có người bào chữa” của người bị buộc tội thông qua việc chỉ định cho bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng có khả năng chịu hình phạt tù.
Thứ hai, quy định thủ tục từ chối người bào chữa chỉ định với sự tham gia của Toà án
Tại Việt Nam, Điều 77 BLTTHS năm 2015 quy định các chủ thể có quyền từ chối người bào chữa cũng như thủ tục từ chối người bào chữa. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối. Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của BLTTHS và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
Khi người bị buộc tội đồng ý từ chối người bào chữa, theo quy định của BLTTHS hiện hành, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ thực hiện thủ tục xác nhận và lập biên bản từ chối. Việc tiếp cận theo hướng này thể hiện sự tôn trọng quyền tự quyết của người bị buộc tội nhưng hạn chế là khó bảo đảm tính công khai, minh bạch. Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật Hoa Kỳ, tác giả cho rằng việc từ chối người bào chữa (trong trường hợp được chỉ định theo luật) cần phải được thực hiện với các thủ tục chặt chẽ hơn để bảo đảm người bị buộc tội hiểu rõ việc có người bào chữa mới bảo đảm quyền bào chữa của họ được thực hiện hiệu quả. Thủ tục này nên được tiến hành bởi Toà án, vì đây là trường hợp từ chối quyền có tính chất hiến định. Người bị buộc tội sẽ trình bày lý do từ chối, Toà án có trách nhiệm giải thích cho người bị buộc tội, người thân thích, người đại diện biết về tính chất hành vi mà họ bị buộc tội, về trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với hành vi này, về những hoạt động mà người bào chữa có thể thực hiện trong quá trình tố tụng (như có mặt trong một số hoạt động điều tra, được đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa khi kết thúc điều tra…), về việc hỗ trợ pháp lý trong toàn bộ quá trình tố tụng cũng như sau khi có bản án. Toà án cần đánh giá khả năng tự thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội để sau đó lập biên bản xác nhận người bị buộc tội tự nguyện từ chối quyền được có người bào chữa chỉ định.
Thứ ba, quy định sự có mặt của người bào chữa trong một số hoạt động điều tra để tăng tính hiệu quả của việc bào chữa.
Theo quy định tại Điều 73 BLTTHS hiện hành: người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, có mặt trong một số hoạt động điều tra khác; người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Toà án; trường hợp chỉ định người bào chữa thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Trong quy định các hoạt động điều tra: khi hỏi cung, Điều tra viên có trách nhiệm thông báo cho người bào chữa; khi khám nghiệm hiện trường có thể cho người bào chữa tham dự; trường hợp cần thiết, người bào chữa có thể tham gia khi tiến hành thực nghiệm điều tra. Như vậy, sự có mặt của người bào chữa trong các hoạt động điều tra nói trên không phải là bắt buộc trong mọi trường hợp. Tác giả cho rằng, khi người bị buộc tội đã thực hiện quyền nhờ người bào chữa tức là họ mong muốn được hỗ trợ pháp lý và bào chữa cho họ tốt hơn việc tự bào chữa. Đối với trường hợp bào chữa chỉ định, yêu cầu có người bào chữa do khả năng tự bào chữa của người bị buộc tội là hạn chế hoặc do nguy cơ đối diện với hình phạt nặng đặt ra. Vì vậy, trong các trường hợp người bị buộc tội có người bào chữa nên quy định sự có mặt của người bào chữa là bắt buộc khi tiến hành lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can. Quy định này sẽ ràng buộc được trách nhiệm không chỉ đối với cơ quan tiến hành điều tra mà còn là nghĩa vụ của người bào chữa, bảo đảm hoạt động bào chữa thực chất, tạo nên sự cân bằng trong tố tụng tại giai đoạn trước xét xử.
Thông qua việc thừa nhận “quyền được bào chữa hiệu quả” của người bị buộc tội, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ khẳng định vai trò trung tâm của Luật sư bào chữa trong việc đảm bảo một hệ thống tư pháp hình sự công bằng. Bởi lẽ việc bào chữa kém hiệu quả của Luật sư có khả năng làm suy yếu lòng tin vào Tòa án, vào tính công bằng và đáng tin cậy của quá trình tố tụng. Lịch sử hình thành và phát triển của “quyền được bào chữa hiệu quả” tại Hoa Kỳ cũng cho thấy vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo đảm quyền được xét xử công bằng. Việc “bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam cần bắt đầu cân nhắc đến tính hiệu quả của hoạt động bào chữa thay vì chỉ đánh giá mỗi tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, việc mở rộng nội dung và bảo đảm quyền bào chữa theo hướng là quyền được bào chữa hiệu quả cần thời gian để chuẩn bị nguồn lực. Vì vậy, những đề xuất trên đây mới chỉ mở đầu chuẩn bị cho các đề xuất tiếp theo đồng thời với những thay đổi khác có tính hệ thống trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American Bar Association, Model Rules of Professional Conduct, (2025), https://www.americanbar.org/groups/professional_responsibility/publications/model_rules_of_professional_conduct/model_rules_of_professional_conduct_table_of_contents/.
2. Danny J. Boggs (1998), The right to a fair trial, University of Chicago Legal Forum: Vol. 1998, Issue 1, Article 2, 1 (1998).
3. Mary Sue Backus & Paul Marcus, The Right to Counsel in Criminal Cases: Still a National Crisis?, College of William & Mary Law School, Faculty Publications, 1564 – 1565 (2018), https://scholarship.law.wm.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=2935&context=facpubs.
4. Mark E. Cammack, The Rise and Fall of the Constitutional Exclusionary Rule in the United States, The American Journal of Comparative Law Vol.58, 631, 632-634 (2010).
5. Samuel Dash, The Emerging Role and Function of the Criminal Defense Lawyer, North Carolina Law Review Vol. 47 No. 3 Art. 4, 612 (1969).
6. Bruce A. Green, A Functional Analysis of the Effective Assistance of Counsel, A Note, Columbia Law Review Vol. 80, 1053-1057 (1980).
7. THOMAS J. GARDNER & TERRY M. ANDERSON, CRIMINAL LAW – CHAPTER 12: OBTAINING STATEMENTS AND CONFESSIONS FOR USE AS EVIDENCE, CENGAGE LEARNING, 301 – 303 (2014).
8. Phan Trung Hoài, Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong sách NHỮNG NỘI DUNG MỚI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 DO NGUYỄN HÒA BÌNH CHỦ BIÊN, NXB. CHÍNH TRỊ QUỐC GIA, HÀ NỘI, 195 (2016).
9. Jeffrey L. Kirchmeier, Drink, Drugs, and Drowsiness: The Constitutional Right to Effective Assistance of Counsel and the Strickland Prejudice Requirement, Nebraska Law Review Vol. 75, 425-431 (1996).
10.John D. King, Beyond "Life and Liberty": The Evolving Right to Counsel, Harvard Civil Rights-Civil Liberties Law Review Vol. 48, 1 (2013).
11.Keith Cunningham-Parmeter, Dreaming of Effective Assistance: The Awakening of Cronic's Call to Presume Prejudice from Representational Absence, Temple Law Review Vol. 76, 827, 836 (2003).
12.Lauren Lipson, Settling on a Standard: Reviewing the Right to Self-Representation, Fordham Law Review Vol. 94, 1177, 1184 (2025).
13.Pamela R. Metzger, Beyond the Bright Line: A Contemporary Right-to-Counsel Doctrine, Northwestern University Law Review Vol. 97, 1640 (2002)
14.Eve Brensike Primus, Disaggregating Ineffective Assistance of Counsel Doctrine: Four Forms of Constitutional Ineffectiveness, Stanford Law Review 72, No. 6, 1581, 1605-1626 (2020).
15.Lương Thị Mỹ Quỳnh, Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 34 (2013).
16.Jacob J. Stender, Protect Me from Myself: Determining Competency to Waive the Right to Counsel During Civil-Commitment Proceedings in Washington State, Seattle University Law Review Vol. 35, 973, 976 (2012)
17.RICHARD S. SHINE, MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA LIÊN BANG HOA KỲ” TRONG SÁCH NHỮNG MÔ HÌNH TỐ TỤNG ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI, CHỦ BIÊN TÔ VĂN HOÀ, NXB. HỒNG ĐỨC, HÀ NỘI, 366 (2012).
18.Walter W. Steele Jr., The Doctrine of Right to Counsel: Its Impact on the Administration of Criminal Justice and the Legal Profession, SMU Law Review Vol. 23 Issue 3 Art. 4, 506 (1969).
19.U.S. Government Publishing Office – GPO (2014), Sixth Amendment – Right of Acccused in Criminal Prosecutions, 1647 (2014), https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CONAN-REV-2014/pdf/GPO-CONAN-REV-2014-10-7.pdf.
20.Unknow Authors, An Historical Argument for the Right to Counsel during Police Interrogation, The Yale Law Journal 73 No. 6, 1000 (1964), https://doi.org/10.2307/794630.
21.CHARLES H. WHITEBREAD & CHRISTOPHER SLOBOGIN, CRIMINAL PROCEDURE – AN ANALYSIS OF CASES AND CONCEPTS (2ND EDITION), THE FOUNDATION PRESS, NEW YORK, 795 (1986).
22.Jennifer Williams, Criminal Law—The Sixth Amendment Right to Counsel—The Supreme Court Minimizes the Right to Effective Assistance of Counsel by Maximizing the Deference Awarded to Barely Competent Defense Attorneys. Florida v. Nixon, 125 S. Ct. 551 (2004)., University of Arkansas at Little Rock Law Review Vol. 28, Issue 1, 149 (2005).
LUẬT CÓ LIÊN QUAN
1. Judiciary Act of 1789, ch. 20, 1 Stat. 73.
2. The Crime Act of April 30, 1790, ch. 9, 1 Stat. 118.
3. U.S. Const. amend. VI.
4. United States Code, 2006 Edition, Supplement 5, Title 18 - CRIMES AND CRIMINAL PROCEDURE – 18 U.S.C. § 3559
5. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới
6. Bộ luật Tố tụng Hình sự số 46/VBHN-VPQH, ngày 28/02/2025
7. Luật Luật sư 2006 số 12/VBHN-VPQH, ngày 12/12/2012
8. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
ÁN LỆ CÓ LIÊN QUAN
1. Argersinger v. Hamlin, 407 U.S. 25 (1972).
2. Avery v. Alabama, 308 U.S. 444 (1940)
3. Betts v. Brady, 316 U.S. 455 (1942).
4. Brewer v. Williams, 430 U.S. 387, 97 S. Ct. 1232 (1977).
5. Caraway v. Beto, 421 F.2d 636 (5th Cir. 1970)
6. Diggs v. Welch, 148 F.2d 667 (D.C. Cir. 1945).
7. Fred W. Heryford v. Charles W. Parker, 396 F.2d 393 (10th Cir. 1968).
8. Gideon v. Wainwright, 372 U.S. 335 (1963).
9. Glasser v. United States, 315 U.S. 60 (1942)
10.In re Gault, 387 U.S. 1 (1967).
11.Johnson v. Zerbst, 304 U.S. 458 (1938).
12.Johnson v. Zerbst, 304 U.S. 462 (1938).
13.MacKenna v. Ellis, 280 F.2d 592 (5th Cir. 1960)
14.Massiah v. United States, 377 U.S. 201, 84 S. Ct. 1199 (1964).
15.McMann v. Richardson, 397 U.S. 759 (1970).
16.Moore v. United States, 432 F.2d 730, 739 (3d Cir. 1970).
17.Powell v. Alabama, 287 U.S. 45 (1932).
18.Scott v. Illinois, 440 U.S. 367 (1979).
19.Strickland v. Washington, 466 U.S. 668, 686 (1984).
20.Trapnell v. United States, 725 F.2d 149, 151 (2d Cir. 1983).
21.United States v. DeCoster, 487 F.2d 1197, 1203, 1204 (D.C. Cir. 1973)
* TS. Trường Đại học Luật Hà Nội. Email: haininh.hn2005@gmail.com, ngày duyệt đăng 27/01/2026
** Ths. Trường Đại học Thăng Long
[1] RICHARD S. SHINE, MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA LIÊN BANG HOA KỲ” TRONG SÁCH NHỮNG MÔ HÌNH TỐ TỤNG ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI, CHỦ BIÊN TÔ VĂN HOÀ, NXB. HỒNG ĐỨC, HÀ NỘI, 366 (2012).
[2] Danny J. Boggs (1998), The right to a fair trial, University of Chicago Legal Forum: Vol. 1998, Issue 1, Article 2, 1-4 (1998).
[3] Unknow Authors, An Historical Argument for the Right to Counsel during Police Interrogation, The Yale Law Journal 73 No. 6, 1000 (1964), . “Though the colonial provisions about counsel were in accord on few things, they agreed on the necessity of abolishing the facts-law distinction; the colonists appreciated that, if a defendant were forced to stand alone against the state, his case was foredoomed.”
[4] United States v. Wade, 388 U.S. 218 (1967). “It is central to that principle that, in addition to counsel's presence at trial, the accused is guaranteed that he need not stand alone against the State at any stage of the prosecution, formal or informal, in court or out, where counsel's absence might derogate from the accused's right to a fair trial.”
[5] Samuel Dash, The Emerging Role and Function of the Criminal Defense Lawyer, North Carolina Law Review Vol. 47 No. 3 Art. 4, 612 (1969).
[6] McMann v. Richardson, 397 U.S. 759, 771 (1970). “If the right to counsel guaranteed by the Constitution is to serve its purpose, defendants cannot be left to the mercies of incompetent counsel, and that judges should strive to maintain proper standards of performance by attorneys who are representing defendants in criminal cases in their courts.”
[7] McMann v. Richardson, 397 U.S. 759, 771 (1970); Strickland v. Washington, 466 U.S. 668, 686 (1984).
[8] Pamela R. Metzger, Beyond the Bright Line: A Contemporary Right-to-Counsel Doctrine, Northwestern University Law Review Vol. 97, 1640 (2002).
[9] U.S. Const. amend. VI. “In all criminal prosecutions, the accused shall enjoy the right to a speedy and public trial, by an impartial jury of the state and district wherein the crime shall have been committed, which district shall have been previously ascertained by law, and to be informed of the nature and cause of the accusation; to be confronted with the witnesses against him; to have compulsory process for obtaining witnesses in his favor, and to have the assistance of counsel for his defense.”
Xem thêm: Johnson v. Zerbst, 304 U.S. 462, 463 (1938). “This is one of the safeguards of the Sixth Amendment deemed necessary to insure fundamental human rights of life and liberty … It embodies a realistic recognition of the obvious truth that the average defendant does not have the professional legal skill to protect himself when brought before a tribunal with power to take his life or liberty, wherein the prosecution is presented by experienced and learned counsel.”
Xem thêm: Samuel Dash, supra note 6, at 612.
[10] Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1640.
[11] Id. at 1640.
Xem thêm: John D. King, Beyond "Life and Liberty": The Evolving Right to Counsel, Harvard Civil Rights-Civil Liberties Law Review Vol. 48, 1 (2013).
Xem thêm: Section 35 Judiciary Act of 1789, ch. 20, 1 Stat. 73. Chỉ ra rằng “parties in federal courts could manage and plead their own causes personally or by the assistance of counsel as provided by the rules of court.”
Xem thêm: The Crime Act of April 30, 1790, ch. 9, 1 Stat. 118. Chỉ ra rằng: “Every person who is indicted of treason or other capital crime, shall be allowed to make his full defense by counsel learned in the law; and the court before which he is tried, or some judge thereof, shall immediately, upon his request, assign to him such counsel not exceeding two, as he may desire, and they shall have free access to him at all reasonable hours.”
Xem thêm: Scott v. Illinois, 440 U.S. 367 (1979). “There is considerable doubt that the Sixth Amendment itself, as originally drafted by the Framers of the Bill of Rights, contemplated any guarantee other than the right of an accused in a criminal prosecution in a federal court to employ a lawyer to assist in his defense.”
[12] 18 U.S.C. § 3559 - Sentencing classification of offenses. Tội phạm trong pháp luật của Hoa Kỳ được phân loại thành 03 nhóm, bao gồm: (1) Felony; (2) Misdemeanor; (3) Infraction. Trong đó, (1) Felony (tùy theo cách dịch khác nhau có thể là trọng tội hay tội phạm nghiêm trọng) là loại tội phạm mà hình phạt cao nhất đối với tội đó là tử hình, và thấp nhất là phạt tù có thời hạn trên 1 năm. (2) Misdemeanor (khinh tội, tội nhẹ hay tội phạm ít nghiêm trọng) là tội phạm mà hình phạt cao nhất đối với tội đó là phạt tù có thời hạn tới 1 năm, và thấp nhất là phạt tù có thời hạn trên 5 ngày. (3) Infraction (vi phạm hành chính hay tội vi cảnh) là tội phạm bị áp dụng hình phạt tiền hoặc giam giữ không quá 5 ngày. Theo đó, capital offense hay capital crime là các tội phạm có thể bị áp dụng hình phạt là tử hình sẽ được xếp vào nhóm tội phạm nghiêm trọng (felony).
[13] U.S. Government Publishing Office – GPO, Sixth Amendment – Right of Acccused in Criminal Prosecutions, 1647 (2014), https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CONAN-REV-2014/pdf/GPO-CONAN-REV-2014-10-7.pdf.
[14] Powell v. Alabama, 287 U.S. 45 (1932).
[15] Johnson v. Zerbst, 304 U.S. 458, 462 (1938).
[16] Johnson v. Zerbst, 304 U.S. 458, 462, 463 (1938). “A person charged with crime in a federal court is entitled by the Sixth Amendment to the assistance of counsel for his defense … The Sixth Amendment withholds from federal courts, in all criminal proceedings, the power and authority to deprive an accused of his life or liberty unless he has or waives the assistance of counsel.”
[17] Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1644.
[18] Id.
Xem thêm: John D. King, supra note 12, at 9.
[19] Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1644.
Xem thêm: John D. King, supra note 12, at 9. “The Court declined, however, to extend the categorical rule established in Johnson to state criminal proceedings.”
[20] Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1644.
[21] Betts v. Brady, 316 U.S. 455, 461, 462, 465 (1942).
Xem thêm: Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1645. “Therefore, state court defendants were entitled to appointed counsel only under the general guarantees afforded by the Fourteenth Amendment due process clause, and only if the case presented ‘special circumstances’ indicating that a trial without counsel would violate ‘fundamental fairness essential to the very concept of justice’.”
Xem thêm: U.S. Government Publishing Office – GPO, supra note 14, at 1649. “… although a state denial of a right protected in one of the first eight Amendments might “in certain circumstances” be a violation of due process.”
[22] Betts v. Brady, 316 U.S. 455, 457, 473 (1942). “… appointment of counsel for indigent defendants in criminal cases is not a fundamental right, essential to a fair trial, …”
Xem thêm: John D. King, supra note 12, at 9.
Xem thêm: U.S. Government Publishing Office – GPO, supra note 14, at 1649.
[23] Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1645.
[24] Id.
[25] Gideon v. Wainwright, 372 U.S. 335, 338 (1963).
[26] Mary Sue Backus & Paul Marcus, The Right to Counsel in Criminal Cases: Still a National Crisis?, College of William & Mary Law School, Faculty Publications, 1564 – 1565 (2018), https://scholarship.law.wm.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=2935&context=facpubs.
[27] 18 U.S.C. § 3559 - Sentencing classification of offenses.
[28] Gideon v. Wainwright, 372 U.S. 335, 338 (1963).
[29] Gideon v. Wainwright, 372 U.S. 335, 344 (1963). “Govemments, both state and federal, quite properly spend vast sums of money to establish machinery to try defendants accused of crime.”; while there was a “widespread belief that lawyers in criminal courts are necessities, not luxuries.”
Xem thêm: Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1646.
[30] Gideon v. Wainwright, 372 U.S. 335, 344 (1963). “Any person haled into court, who is too poor to hire a lawyer, cannot be assured a fair trial unless counsel is provided for him.” Xem thêm: John D. King, supra note 12, at page 10.
[31] Gideon v. Wainwright, 372 U.S. 335, 345 (1963). “The Court in Betts v. Brady departed from the sound wisdom upon which the Court’s holding in Powell v. Alabama rested … Twenty-two States, as friends of the Court, argue that Betts was ‘an anachronism when handed down’ and that it should now be overruled. We agree.”
Xem thêm: U.S. Government Publishing Office – GPO, supra note 14, at 1651.
[32] In re Gault, 387 U.S. 1 (1967). “There is no material difference in this respect between adult and juvenile proceedings …”
[33] In re Gault, 387 U.S. 1 (1967). The child “requires the guiding hand of counsel at every step in the proceedings against him.”
[34] In re Gault, 387 U.S. 1 (1967). “The child and his parents must be notified of the child's right to be represented by counsel retained by them, or, if they are unable to afford counsel, that counsel will be appointed to represent the child.”
[35] Fred W. Heryford v. Charles W. Parker, 396 F.2d 393 (10th Cir. 1968). “Where, as in both proceedings for juveniles and mentally deficient persons, the state undertakes to act in parens patriae, it has the inescapable duty to vouchsafe due process, and this necessarily includes the duty to see that a subject of an involuntary commitment proceedings is afforded the opportunity to the guiding hand of legal counsel at every step of the proceedings, …”
[36] Argersinger v. Hamlin, 407 U.S. 25 (1972). “In this case, the Supreme Court of Florida erred in holding that petitioner, an indigent who was tried for an offense punishable by imprisonment up to six months, a $1,000 fine, or both, and given a 90-day jail sentence, had no right to court-appointed counsel, on the ground that the right extends only to trials "for non-petty offenses punishable by more than six months imprisonment.”
[37] Argersinger v. Hamlin, 407 U.S. 25 (1972). “Counsel is needed so that the accused may know precisely what he is doing, so that he is fully aware of the prospect of going to jail or prison, and so that he is treated fairly by the prosecution.”
[38] Argersinger v. Hamlin, 407 U.S. 25 (1972). “In addition, the volume of misdemeanor cases, far greater in number than felony prosecutions, may create an obsession for speedy dispositions, regardless of the fairness of the result.”
[39] Argersinger v. Hamlin, 407 U.S. 25 (1972). “The misdemeanor trial is characterized by insufficient and frequently irresponsible preparation on the part of the defense, the prosecution, and the court. Everything is rush, rush.”
[40] Argersinger v. Hamlin, 407 U.S. 25 (1972). “We hold, therefore, that, absent a knowing and intelligent waiver, no person may be imprisoned for any offense, whether classified as petty, misdemeanor, or felony, unless he was represented by counsel at his trial.”
[41] CHARLES H. WHITEBREAD & CHRISTOPHER SLOBOGIN, CRIMINAL PROCEDURE – AN ANALYSIS OF CASES AND CONCEPTS (2ND EDITION), THE FOUNDATION PRESS, NEW YORK, 795 (1986).
[42] McMann v. Richardson, 397 U.S. 759, 771 (1970). “… if the right to counsel guaranteed by the Constitution is to serve its purpose, defendants cannot be left to the mercies of incompetent counsel, and that judges should strive to maintain proper standards of performance by attorneys who are representing defendants in criminal cases in their courts.”
[43] Jennifer Williams, Criminal Law—The Sixth Amendment Right to Counsel—The Supreme Court Minimizes the Right to Effective Assistance of Counsel by Maximizing the Deference Awarded to Barely Competent Defense Attorneys. Florida v. Nixon, 125 S. Ct. 551 (2004)., University of Arkansas at Little Rock Law Review Vol. 28, Issue 1, 149 (2005).
Xem thêm: Jeffrey L. Kirchmeier, Drink, Drugs, and Drowsiness: The Constitutional Right to Effective Assistance of Counsel and the Strickland Prejudice Requirement, Nebraska Law Review Vol. 75, 425-431 (1996).
Xem thêm: Keith Cunningham-Parmeter, Dreaming of Effective Assistance: The Awakening of Cronic's Call to Presume Prejudice from Representational Absence, Temple Law Review Vol. 76, 827, 836 (2003).
Xem thêm: Caraway v. Beto, 421 F.2d 636, 637 (5th Cir. 1970); MacKenna v. Ellis, 280 F.2d 592, 599 (5th Cir. 1960). “We interpret the right to counsel as the right to effective counsel.”
[44] John D. King, supra note 12, at 10 – 13.
[45] Powell v. Alabama, 287 U.S. 45 (1932)
Xem thêm: Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1642.
[46] Powell v. Alabama, 287 U.S. 45 (1932).
Xem thêm: John D. King, supra note 12, at 10 – 13.
Xem thêm: Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1642 – 1644.
[47] Powell v. Alabama, 287 U.S. 45 (1932)
[48] Pamela R. Metzger, supra note 9, at 1644.
[49] Bruce A. Green, A Functional Analysis of the Effective Assistance of Counsel, A Note, Columbia Law Review Vol. 80, 1053-1057 (1980).
Xem thêm: Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 431.
Xem thêm: Jennifer Williams, supra note 44, at 161. “The notion of effective assistance of counsel can be found as early as the Powell decision, …”
Xem thêm: Glasser v. United States, 315 U.S. 60, 70 (1942); Avery v. Alabama, 308 U.S. 444, 446 (1940); Powell v. Alabama, 287 U.S. 45, 71 (1932).
[50] Bruce A. Green, supra note 50, at 1058.
Xem thêm: Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 431.
Xem thêm: Keith Cunningham-Parmeter, supra note 44, at 836-837.
Xem thêm: Jennifer Williams, supra note 44 , at 161-162.
Xem thêm: Diggs v. Welch, 148 F.2d 667, 670 (D.C. Cir. 1945). “They are all cases where the circumstances surrounding the trial shocked the conscience of the court and made the proceedings a farce and a mockery of justice.”
[51] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 431.
Xem thêm: Trapnell v. United States, 725 F.2d 149, 151 (2d Cir. 1983). “By 1962, nine of the eleven circuits were applying the Diggs "farce and mockery" standard … The two remaining circuits adopted the "farce and mockery" standard in 1965 and 1970, respectively.”
[52] CHARLES H. WHITEBREAD & CHRISTOPHER SLOBOGIN, supra note 42, at 795. “Moreover, the “farce and mockery” standard was extrenely vague, …”
[53] Id. at 795. “On its face, the standard put an unduly heavy burden on the defendant.”
Xem thêm: Bruce A. Green, supra note 50, at 1058. “For many courts that now acknowledge the independent sixth amendment underpinnings of the right to effective assistance, the “farce and mockery” standard seems to have become little more than a metaphor for the heavy burden imposed upon defendants to demonstrate attorney ineffectiveness.”
[54] Trapnell v. United States, 725 F.2d 149, 151, 152 (2d Cir. 1983).
Xem thêm: Bruce A. Green, supra note 50, at 1059.
Xem thêm: Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 431.
[55] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 432.
Xem thêm: Caraway v. Beto, 421 F.2d 636, 637 (5th Cir. 1970); MacKenna v. Ellis, 280 F.2d 592, 599 (5th Cir. 1960).
[56] Moore v. United States, 432 F.2d 730, 739 (3d Cir. 1970). “This standard also makes it clear that … whether counsel’s performance was at the level of normal competency”.
[57] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 432.
[58] Trapnell v. United States, 725 F.2d 149, 155 (2d Cir. 1983). “There are nonetheless substantial reasons that call for the explicit adoption of a standard of "reasonable competence."
[59] CHARLES H. WHITEBREAD & CHRISTOPHER SLOBOGIN, supra note 42, at 796.
Xem thêm: United States v. DeCoster, 487 F.2d 1197, 1203, 1204 (D.C. Cir. 1973).
[60] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 433.
[61] McMann v. Richardson, 397 U.S. 759, 771 (1970); Strickland v. Washington, 466 U.S. 668, 686 (1984).
[62] Strickland v. Washington, 466 U.S. 668, 686 (1984). “Government violates the right to effective assistance when it interferes in certain ways with the ability of counsel to make independent decisions about how to conduct the defense.”
[63] Strickland v. Washington, 466 U.S. 668, 686 (1984). “Counsel, however, can also deprive a defendant of the right to effective assistance, simply by failing to render "adequate legal assistance (actual conflict of interest adversely affecting lawyer's performance renders assistance ineffective).”
[64] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 434.
Xem thêm: Keith Cunningham-Parmeter, supra note 44, at 838.
Xem thêm: Jennifer Williams, supra note 44, at 162-163.
Xem thêm: Eve Brensike Primus, Disaggregating Ineffective Assistance of Counsel Doctrine: Four Forms of Constitutional Ineffectiveness, Stanford Law Review 72, No. 6, 1581, 1605-1626 (2020).
[65] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 434-435
Xem thêm: Eve Brensike Primus, supra note 65, at 1584-1585.
Xem thêm: Jennifer Williams, supra note 44, at 162-163.
[66] Eve Brensike Primus, supra note 65, at 1628 (footnote 256).
[67] Jeffrey L. Kirchmeier, supra note 44, at 439.
[68] Eve Brensike Primus, supra note 65, at 1626. “A detailed review of the Supreme Court case law reveals that Strickland’s two-pronged test has more defense-friendly layers to it than scholars and courts have recognized. The failure to recognize these developments means that personal ineffectiveness doctrine is not being used by litigants or courts to its full potential.”
[69] John D. King, supra note 12, at 10.
[70] Lauren Lipson, Settling on a Standard: Reviewing the Right to Self-Representation, Fordham Law Review Vol. 94, 1177, 1184 (2025).
[71] Jacob J. Stender, Protect Me from Myself: Determining Competency to Waive the Right to Counsel During Civil-Commitment Proceedings in Washington State, Seattle University Law Review Vol. 35, 973, 976 (2012)
[72] THOMAS J. GARDNER & TERRY M. ANDERSON, CRIMINAL LAW – CHAPTER 12: OBTAINING STATEMENTS AND CONFESSIONS FOR USE AS EVIDENCE, CENGAGE LEARNING, 301 – 303 (2014).
Xem thêm: Mark E. Cammack, The Rise and Fall of the Constitutional Exclusionary Rule in the United States, The American Journal of Comparative Law Vol.58, 631, 632-634 (2010).
[73] Massiah v. United States, 377 U.S. 201, 84 S. Ct. 1199 (1964). “Incriminating statements thus deliberately elicited by federal agents from the petitioner, in the absence of his attorney, deprived the petitioner of his right to counsel under the Sixth Amendment; therefore such statements could not constitutionally be used as evidence against him in his trial.”
Xem thêm: Fellers v. U.S., 540 U.S. 519 (2004). Finding that "implicit questions" and "discussion" about defendant's methamphetamine use constituted a Sixth Amendment violation.
[74] Massiah v. United States, 377 U.S. 201 (1964).
[75] Massiah v. United States, 377 U.S. 201 (1964).
Xem thêm: Brewer v. Williams, 430 U.S. 387, 97 S. Ct. 1232 (1977). “Rather, the clear rule of Massiah is that once adversary proceedings have commenced against an individual, he has a right to legal representation when the government interrogates him.”
[76] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới
[77] Lương Thị Mỹ Quỳnh, Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 34 (2013).
[78] American Bar Association, Model Rules of Professional Conduct, (2025), https://www.americanbar.org/groups/professional_responsibility/publications/model_rules_of_professional_conduct/model_rules_of_professional_conduct_table_of_contents/.
[79] Bộ luật Tố tụng Hình sự số 46/VBHN-VPQH, ngày 28/02/2025, Điều 73.
Xem thêm: Luật Luật sư 2006 số 12/VBHN-VPQH, ngày 12/12/2012.
[80] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 4, Điều 358, Điều 391.
[81] Phan Trung Hoài, Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong sách NHỮNG NỘI DUNG MỚI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 DO NGUYỄN HÒA BÌNH CHỦ BIÊN, NXB. CHÍNH TRỊ QUỐC GIA, HÀ NỘI, 195 (2016).
[82] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022.
[83] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[84] Walter W. Steele Jr., The Doctrine of Right to Counsel: Its Impact on the Administration of Criminal Justice and the Legal Profession, SMU Law Review Vol. 23 Issue 3 Art. 4, 506 (1969).
[85] Id. at 506. Việc Luật sư hiện diện một cách thường xuyên nhưng không có lịch trình cụ thể có thể làm tăng tính hiệu trong việc giám sát hoạt động của cơ quan công tố. Do xuất hiện yếu tố bất ngờ trong hoạt động của Luật sư mà họ có thể tiến hành thanh tra tốt hơn các cơ quan thanh tra của nhà nước, bởi lẽ, các cơ quan này hoạt động theo lịch trình thông báo trước, từ đó cho phép đơn vị bị thanh tra có cơ hội chuẩn bị, che giấu những thiếu sót và sai phạm.
Nguyễn Hải Ninh* Phùng Vũ Hiệp**
Link nội dung: https://pld.net.vn/quyen-duoc-bao-chua-hieu-qua-trong-to-tung-hinh-su-hoa-ky-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-a20353.html