“Đúng vai, đúng thẩm quyền”, thông điệp quản trị từ Tổng Bí thư Tô Lâm

Từ thông điệp “đúng vai, đúng thẩm quyền”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phân cấp rõ ràng, gắn quyền hạn với trách nhiệm, để quyết sách chuyển hóa thành kết quả thực chất.

Một bộ máy vận hành hiệu quả không nhất thiết bắt đầu từ việc trao thêm quyền, mà từ việc xác định rõ ai được quyết định việc gì và ai phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Giao việc mà không giao đủ quyền thì cấp dưới khó chủ động; giao quyền mà trách nhiệm không rõ thì dễ nảy sinh né tránh. Khi việc gì cũng phải chờ cấp trên, một hệ thống dù tổ chức chặt chẽ cũng khó vận hành nhanh và hiệu quả. Ngược lại, phân cấp mạnh nhưng thiếu điều kiện thực thi và không rõ trách nhiệm cũng khó tạo ra hiệu quả. Bài toán vì thế không đơn giản là lựa chọn giữa tập trung hay phân quyền, mà là xác lập đúng ranh giới. Việc gì nhất thiết phải tập trung để bảo đảm thống nhất; thẩm quyền nào trao xuống dưới để phát huy chủ động; cấp trên phải giữ việc gì và không nên làm thay việc gì.

Phát biểu tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương (20/8/2026) về Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Kiên định gắn với đổi mới; lãnh đạo toàn diện nhưng đúng vai, đúng thẩm quyền; tập trung thống nhất nhưng phát huy chủ động; phân cấp mạnh đi đôi với kiểm soát quyền lực; công nghệ không thể thay đổi trách nhiệm chính trị và quyết định của con người"[1]. Những yêu cầu này có thể quy về một mạch tư duy lãnh đạo toàn diện nhưng không làm thay, tập trung thống nhất nhưng không ôm mọi quyết định, trao quyền đồng thời xác lập trách nhiệm, công nghệ hỗ trợ quản trị nhưng con người vẫn phải chịu trách nhiệm về quyết định. Tất cả cuối cùng phải hướng đến điều Tổng Bí thư xác định: “Trục xuyên suốt là từ quyết sách đúng đến kết quả thực chất.” Đó cũng là chìa khóa để hiểu sâu hơn yêu cầu “đúng vai, đúng thẩm quyền”: lãnh đạo đúng không dừng ở việc đề ra đường hướng đúng, mà phải làm cho cả hệ thống phía dưới có khả năng vận hành, để quyền lực không tắc nghẽn ở một tầng nào đó và quyết sách thực sự chuyển hóa thành kết quả.

tbt-ctn-to-lam-1787538376.jpg

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc về Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW. Nguồn ảnh: dangcongsan.org.vn.

Từ “lãnh đạo đúng” đến “hệ thống chạy đúng”

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nguyên tắc nền tảng của hệ thống chính trị Việt Nam chúng ta. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền không làm thay đổi nguyên tắc đó. Việc cần đổi mới là cách thức để sự lãnh đạo ngày càng khoa học, dân chủ và hiệu quả hơn. Chất lượng lãnh đạo không thể chỉ nhìn từ nơi ban hành quyết sách, cần phải được đo bằng khả năng của toàn hệ thống trong việc biến quyết sách thành hành động. Chủ trương đúng nhưng chậm thể chế hóa thì giá trị thực tế bị giảm đi. Pháp luật đúng nhưng thi hành yếu thì mục tiêu chính sách khó đạt được. Thẩm quyền đã giao mà người có quyền không dám quyết thì công việc vẫn đình trệ. Bộ máy được tinh gọn nhưng hồ sơ tiếp tục đi qua nhiều tầng xin ý kiến thì cấu trúc đã đổi mà cách vận hành chưa đổi tương xứng. Cho nên, từ “lãnh đạo đúng” đến “hệ thống chạy đúng” là một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị. “Đúng vai” trước hết đòi hỏi phân định rõ vai trò trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đảng tập trung vào chiến lược phát triển, những chủ trương lớn, xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và lãnh đạo tổ chức thực hiện. Nhà nước phát huy đầy đủ năng lực thể chế hóa, quản lý, điều hành và tổ chức thi hành bằng thẩm quyền được Hiến pháp và pháp luật xác lập. Các cấp chính quyền chủ động giải quyết công việc thuộc phạm vi trách nhiệm, Nhân dân tham gia, giám sát và đánh giá hiệu quả thông qua kết quả mà chính sách mang lại. Khi cấp trên thường xuyên xử lý công việc thuộc thẩm quyền cấp dưới, hai tổn thất xuất hiện cùng lúc đó là cấp dưới mất dần khả năng chủ động, trong khi cấp trên bị cuốn vào những việc không thuộc tầm của mình. Làm thay càng nhiều càng tạo tâm lý chờ đợi; chờ đợi càng nhiều lại càng kéo cấp trên vào sự vụ. “không làm thay” không có nghĩa là giảm vai trò lãnh đạo. Trái lại, đó là cách đưa lãnh đạo trở về đúng tầm xác định hướng đi, thiết lập thể chế, lựa chọn cán bộ, kiểm soát quyền lực và tạo ra một hệ thống có khả năng tự vận hành theo đúng định hướng. Đó là sự khác biệt giữa lãnh đạo từng công việc và lãnh đạo một hệ thống.

“Đúng thẩm quyền”, không chỉ chống lạm quyền mà còn phải chống né quyền

Kiểm soát quyền lực thường được nhìn từ yêu cầu ngăn người có quyền vượt quá giới hạn được giao. Không lạm quyền, vượt quyền hay lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ là yêu cầu tất yếu của Nhà nước pháp quyền. Nhưng hiệu quả quản trị còn phụ thuộc vào chiều ngược lại, người đã được trao quyền có thực sự sử dụng quyền để giải quyết công việc thuộc trách nhiệm của mình hay không. Có quyền nhưng không dám quyết, việc thuộc thẩm quyền vẫn đưa lên xin ý kiến, quyết định thuộc trách nhiệm cá nhân lại tìm cách đưa ra tập thể hay công việc cấp dưới có khả năng giải quyết vẫn chuyển lên trên để tìm một sự bảo đảm an toàn. Khi hiện tượng này kéo dài, một nghịch lý xuất hiện “phân quyền trên văn bản nhưng tập trung trong hành vi”. Thẩm quyền được đưa xuống, còn quyết định thực tế lại tiếp tục đi lên. Không thể quy mọi trường hợp xin ý kiến cho tâm lý sợ trách nhiệm. Có việc phức tạp cần phối hợp hoặc phải được cấp cao hơn quyết định. Nguyên nhân đôi khi nằm ngay trong thiết kế thể chế, nhiệm vụ đã giao nhưng thẩm quyền chưa rõ. Quyền đã trao nhưng nguồn lực không tương xứng, quy định giữa các lĩnh vực còn giao thoa. Trách nhiệm lớn trong khi cơ chế bảo vệ người thực thi đúng pháp luật, vì lợi ích chung chưa đủ tạo sự yên tâm. Khi đó, “xin ý kiến” dễ trở thành một cơ chế phòng thủ. Kể cả những việc đã rõ thẩm quyền cũng thường xuyên được đẩy lên trên, phân cấp sẽ mất ý nghĩa. Cấp trên sa vào xử lý sự vụ, thời gian ra quyết định kéo dài, còn cấp dưới khó hình thành bản lĩnh và năng lực chịu trách nhiệm. Chúng ta thường thấy trong những lĩnh vực có quyết định hành chính phức tạp như đầu tư công, đất đai, phê duyệt dự án, mua sắm công hay những vấn đề mới chưa có tiền lệ… Một quyết định chậm không chỉ làm chậm một thủ tục, nó có thể khiến nguồn lực nằm im, dự án đình trệ, chi phí của doanh nghiệp tăng lên và cơ hội phát triển bị bỏ lỡ... Đây không còn chỉ là một hiện tượng cần cảnh báo. Mới đây, Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương đã bổ sung vào những điều đảng viên không được làm hành vi “né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, không làm, làm việc cầm chừng, chậm trễ trong tham mưu, đề xuất và thực hiện nhiệm vụ được giao”. Cùng với siết chặt kỷ luật trách nhiệm, quy định cũng đặt ra yêu cầu khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Hai chiều ấy phải đi cùng nhau để quyền lực bị bỏ trống vì né tránh, nhưng cũng không để người thực thi đúng thẩm quyền phải đơn độc trước rủi ro. Muốn khắc phục tình trạng đó, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm phải nối thành một chuỗi. Người được giao việc phải có đủ quyền và điều kiện để quyết định. Người có quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình và có nghĩa vụ giải trình. “Đúng thẩm quyền”, cần được hiểu theo cả hai chiều: không ai được làm điều vượt quá quyền của mình, nhưng khi thẩm quyền đã rõ thì cũng không thể né tránh việc thuộc trách nhiệm phải làm. Kỷ luật quyền lực không dừng ở chống vượt quyền mà phải bao gồm cả trách nhiệm sử dụng đúng quyền đã được giao. “Lạm quyền làm méo mó quyền lực, còn né quyền làm tê liệt quyền lực”. Một bên tạo ra những quyết định sai lệch, bên kia khiến quyết định cần thiết có thể không bao giờ được đưa ra. Muốn “hệ thống chạy đúng”, phải kiểm soát được cả hai nguy cơ này.

Tập trung thống nhất nhưng phải để cấp gần thực tiễn được quyền quyết định

Tổng Bí thư Tô Lâm nói: “Tập trung thống nhất nhưng phát huy chủ động”, đặt ra cho chúng ta một câu hỏi căn bản là quyết định nên được đặt ở cấp nào? Những vấn đề thuộc chiến lược quốc gia, thể chế chung, quốc phòng, an ninh, tiêu chuẩn quốc gia, nguồn lực chiến lược, liên ngành, liên vùng và lợi ích chung của đất nước cần được bảo đảm thống nhất. Phân quyền không thể tạo ra những không gian cục bộ hay làm suy giảm kỷ luật chung. Nhưng thống nhất cũng không có nghĩa mọi quyết định cụ thể đều phải đưa lên trên. Trong quản trị hiện đại có một nguyên tắc đáng tham khảo: việc gì cấp gần thực tiễn có đủ năng lực giải quyết thì nên để cấp đó quyết định, cấp trên tập trung vào những vấn đề cần sự thống nhất hoặc vượt khỏi khả năng của cấp dưới. Khoa học quản trị gọi đó là nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity). Tinh thần này khá gần với yêu cầu Tổng Bí thư Tô Lâm nêu: “Cấp trên tập trung chiến lược, thể chế, kiểm tra; cấp dưới chủ động quyết định, không đẩy việc lên trên"[2]. Như vậy, vấn đề không phải Trung ương hay địa phương nên có nhiều quyền hơn, mà là quyền được đặt ở đâu để quyết định nhanh hơn, sát thực tiễn hơn, huy động nguồn lực tốt hơn nhưng vẫn bảo đảm lợi ích chung của quốc gia. Trong đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng, ngân sách hay quản lý dự án… nhiều vấn đề gắn trực tiếp với điều kiện từng địa phương. Khi địa phương đủ năng lực và điều kiện thực thi, trao quyền quyết định gần thực tiễn hơn có thể rút ngắn thời gian đồng thời làm rõ trách nhiệm. Yêu cầu này không làm Trung ương yếu đi. Một trung tâm mạnh không phải là trung tâm phải quyết định mọi việc, trung tâm mạnh là trung tâm đủ năng lực quyết định đúng những việc chỉ trung tâm mới nên quyết định. Phân quyền đúng sẽ giải phóng Trung ương khỏi sự vụ để mạnh hơn về chiến lược, thể chế, điều phối và kiểm tra. Tư duy này càng có ý nghĩa khi tổ chức bộ máy và chính quyền địa phương được sắp xếp lại. Phân cấp thực chất không đơn thuần là chuyển một dòng thẩm quyền từ trên xuống dưới. Quyền phải đi cùng những điều kiện để quyền có thể vận hành. Dữ liệu và công nghệ ngày càng quan trọng trong chuỗi điều kiện này, bởi chúng cho phép cấp dưới có thêm căn cứ để quyết định, đồng thời giúp cấp trên giám sát mà không phải can thiệp vào từng công việc. Nhưng giới hạn phải rất rõ, công nghệ có thể tạo điều kiện để phân quyền sâu hơn mà vẫn kiểm soát tốt hơn, song không thể thay thế người có thẩm quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm. Yêu cầu “một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm chính” có ý nghĩa đặc biệt. Nhiều cơ quan có thể phối hợp, nhưng trách nhiệm cuối cùng không thể hòa tan trong tập thể. “Đúng vai” cuối cùng phải dẫn đến đúng địa chỉ trách nhiệm. Có như vậy hệ thống mới vận hành mà không phải liên tục đẩy quyết định lên cấp cao hơn.

Từ quyết sách đúng đến kết quả thực chất

Nếu “đúng vai, đúng thẩm quyền” xác lập cách quyền lực được tổ chức và vận hành, thì kết quả cuối cùng là thước đo quyền lực có được tổ chức tốt hay không. Tổng Bí thư xác định: “Trục xuyên suốt là từ quyết sách đúng đến kết quả thực chất. Tổ chức thực hiện là bộ phận cấu thành chất lượng lãnh đạo cầm quyền"[3]. Một quyết sách đúng rất quan trọng nhưng chưa phải điểm kết thúc. Chủ trương phải được thể chế hóa, thể chế phải thi hành được, chính sách phải giải quyết được vấn đề của thực tiễn và những bất cập phát sinh phải được phát hiện, điều chỉnh kịp thời. Khoảng cách từ một quyết định đúng đến một kết quả tốt chính là nơi năng lực của hệ thống được thử thách. Thực tế vẫn có chính sách đúng về mục tiêu nhưng triển khai chậm; văn bản đã ban hành nhưng tiếp tục chờ hướng dẫn, dự án đã có chủ trương nhưng nguồn lực chưa được đưa vào vận hành vì thủ tục kéo dài hoặc không rõ ai chịu trách nhiệm quyết định. Nên, “đã có chủ trương” chưa bao giờ có thể đồng nghĩa với “đã hoàn thành nhiệm vụ”. Khi tổ chức thực hiện được coi là bộ phận cấu thành chất lượng lãnh đạo, cầm quyền, chuỗi trách nhiệm từ chủ trương đến thể chế, từ thể chế đến hành động và từ hành động đến kết quả không thể bị chia cắt. Mỗi nhiệm vụ phải xác định được người chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời gian và sản phẩm cuối cùng. Đó là bước chuyển từ quản trị thiên về quy trình sang quản trị coi trọng kết quả. Không thể chỉ hỏi một cơ quan đã ban hành bao nhiêu văn bản, tổ chức bao nhiêu cuộc họp hay hoàn thành đủ thủ tục hay chưa. Quan trọng hơn là vấn đề đã được giải quyết chưa, thời gian xử lý có ngắn lại không, nguồn lực xã hội có được khơi thông không, chi phí của người dân và doanh nghiệp có giảm không, chính sách đã tạo ra thay đổi gì trong thực tế.

Một bộ máy không tồn tại để hoàn thành quy trình cho chính mình. Giá trị của cải cách phải được thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề, khơi thông nguồn lực, mở rộng cơ hội phát triển và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Từ thông điệp của Tổng Bí thư Tô Lâm về “đúng vai, đúng thẩm quyền”, người viết cho rằng, để yêu cầu này thực sự trở thành phương thức hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và những người trực tiếp được giao trọng trách, cần chú ý ba yêu cầu.

Trước hết, đúng vị trí. Mỗi người phải biết rõ việc gì thuộc trách nhiệm của mình, việc gì thuộc thẩm quyền của người khác và đâu là giới hạn cần phối hợp. Người lãnh đạo không làm thay việc đã giao; người thực thi không chờ chỉ đạo đối với việc thuộc trách nhiệm của mình. Đúng vị trí vừa để không vượt quyền, vừa không bỏ trống trách nhiệm.

Thứ hai, dám quyết định. Thận trọng là cần thiết, nhưng không thể lấy sự thận trọng làm lý do để đẩy việc lên trên hoặc hòa trách nhiệm cá nhân vào tập thể. Khi thẩm quyền đã rõ, căn cứ đã đủ và điều kiện cho phép, quyết định đúng lúc cũng là trách nhiệm của người được giao quyền.

Thứ ba, chịu trách nhiệm đến kết quả. Hoàn thành thủ tục, ban hành văn bản hay ký quyết định chưa phải điểm kết thúc. Người nhận nhiệm vụ phải theo công việc đến sản phẩm cuối cùng và có khả năng giải trình về kết quả thuộc phạm vi mình phụ trách. Thước đo sau cùng là vấn đề có được giải quyết, nguồn lực có được khơi thông và người dân, doanh nghiệp có thực sự được phục vụ tốt hơn hay không.

Nhìn từ tầm nhìn đến năm 2030 và 2045 mà Tổng Bí thư đặt ra, yêu cầu “đúng vai, đúng thẩm quyền” vượt khỏi phạm vi một vấn đề về tổ chức bộ máy. “Đến năm 2030 phải xác lập vững chắc nền nếp lãnh đạo gắn với mục tiêu, sản phẩm, kết quả và trách nhiệm. Đến năm 2045 phát triển phương thức lãnh đạo, cầm quyền lên trình độ cao, khoa học, dân chủ, pháp quyền, hiện đại, thích ứng cao, bảo đảm hệ thống chính trị vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả”[4]. Đích đến liên quan trực tiếp đến năng lực quốc gia, vì năng lực quốc gia không chỉ nằm ở việc lựa chọn được đường hướng phát triển đúng, ngoài ra cần khả năng biến lựa chọn đó thành hành động và kết quả. Từ “lãnh đạo đúng” đến “hệ thống chạy đúng”, khoảng cách nằm ở năng lực tổ chức thực hiện. Đúng vai để không làm thay; đúng thẩm quyền để không vượt quyền và cũng không né quyền. Phân cấp để giải phóng sự chủ động nhưng kiểm soát để giữ kỷ cương. Khi từng mắt xích vận hành đúng chức năng và chịu trách nhiệm đến cùng, sức mạnh lãnh đạo mới chuyển hóa thành sức mạnh của cả hệ thống và cuối cùng thành năng lực phát triển của quốc gia để chúng ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

[1] Vương Trần, https://laodong.vn/thoi-su/lay-su-hai-long-cua-nguoi-dan-lam-can-cu-danh-gia-quyet-sach-can-bo-1753305.ldo, Xem ngày 20/8/2026

[2] https://vietnammedia.vnanet.vn/news/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-cap-tren-tap-trung-chien-luoc-the-che-kiem-tra-cap-duoi-chu-dong-quyet-dinh-khong-day-viec-len-tren-198901.htm. Xem ngày 20/8/2026

[3] Vương Trần, https://laodong.vn/thoi-su/lay-su-hai-long-cua-nguoi-dan-lam-can-cu-danh-gia-quyet-sach-can-bo-1753305.ldo, Xem ngày 20/8/2026

[4] https://vtv.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tu-quyet-sach-dung-den-ket-qua-thuc-chat-100260820114937072.htm, xem ngày 20/8/2026

BÀI LIÊN QUAN