Pháp luật về bao bì sản phẩm trong thương mại điện tử xanh – Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Bài viết phân tích pháp luật Việt Nam về quản lý bao bì trong thương mại điện tử xanh, so sánh kinh nghiệm quốc tế và đề xuất hoàn thiện theo hướng kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững.

Tóm tắt: Bài viết phân tích khung pháp luật Việt Nam về quản lý bao bì trong thương mại điện tử xanh, tập trung vào các quy định về trách nhiệm môi trường, công bố thông tin, phân bổ trách nhiệm và cơ chế giám sát. Trên cơ sở so sánh với pháp luật EU, Hàn Quốc và Singapore, bài viết chỉ ra những khoảng trống về quản lý vòng đời bao bì, minh bạch thông tin môi trường và trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi thương mại điện tử. Từ đó, bài viết đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường quản lý bao bì theo hướng kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Từ khóa: thương mại điện tử xanh; bao bì sản phẩm; EPR; phát triển bền vững

Abstract: This article analyzes Vietnam's legal framework for packaging management in green e-commerce, focusing on regulations concerning environmental responsibility, information disclosure, allocation of responsibilities, and monitoring mechanisms. Based on a comparison with the laws of the EU, South Korea, and Singapore, the article identifies gaps in the legal regulation of packaging life-cycle management, the transparency of environmental information, and the responsibilities of stakeholders across the e-commerce supply chain. On this basis, the article proposes directions for improving the legal framework to strengthen packaging management in line with the circular economy and sustainable development.

Keywords: green e-commerce; product packaging; EPR (Extended Producer Responsibility); sustainable development

1. Đặt vấn đề:

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử (TMĐT) đã làm gia tăng đáng kể lượng bao bì phát sinh do đặc trưng giao hàng tận nơi, đóng gói nhiều lớp và sử dụng phổ biến vật liệu dùng một lần, tạo ra những thách thức mới đối với bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn, bao bì không chỉ là phương tiện chứa đựng sản phẩm mà còn trở thành đối tượng quản lý môi trường trong toàn bộ vòng đời.

Tại Việt Nam, các quy định liên quan đến bao bì hiện được điều chỉnh chủ yếu thông qua pháp luật về bảo vệ môi trường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và TMĐT. Đặc biệt, cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất ((Extended Producer Responsibility - EPR) được thiết lập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020[1] và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng quan trọng cho việc thu hồi, tái chế và quản lý chất thải bao bì. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của TMĐT, yêu cầu đặt ra không chỉ là kiểm soát chất thải sau tiêu dùng mà còn phải quản lý hiệu quả việc thiết kế, sử dụng, thu hồi và tái sử dụng bao bì trong toàn bộ chuỗi giao dịch điện tử. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh pháp luật để làm rõ quy định của Việt Nam về quản lý bao bì trong TMĐT xanh, phân tích kinh nghiệm của EU, Hàn Quốc và Singapore, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật đối với bao bì sản phẩm trong thương mại điện tử xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên, phát triển bền vững đã trở thành định hướng quan trọng trong xây dựng chính sách và pháp luật. Sự phát triển nhanh của TMĐT cũng đặt ra yêu cầu lồng ghép các mục tiêu bảo vệ môi trường vào hoạt động thương mại trực tuyến, hình thành mô hình TMĐT xanh[2]. Theo đó, TMĐT xanh là mô hình TMĐT tổ chức các hoạt động từ sản xuất, đóng gói, vận chuyển, giao nhận đến thu hồi và xử lý sau tiêu dùng theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát sinh chất thải và phát thải, góp phần thúc đẩy tiêu dùng bền vững và kinh tế tuần hoàn[3].

Theo cách hiểu truyền thống, bao bì chủ yếu dùng để chứa đựng, bảo quản và vận chuyển hàng hóa[4]. Tuy nhiên, trong TMĐT, phạm vi bao bì được sử dụng trong quá trình đưa hàng hóa đến người tiêu dùng không chỉ giới hạn ở bao bì trực tiếp của sản phẩm mà còn bao gồm bao bì thứ cấp, bao bì vận chuyển và các vật liệu bảo vệ phục vụ quá trình giao nhận. Trong đó, bao bì trực tiếp bao quanh và bảo vệ sản phẩm, còn bao bì vận chuyển có thể tập hợp nhiều sản phẩm thành một đơn vị giao hàng và bảo vệ sản phẩm trong quá trình vận chuyển[5]. Khác với bán lẻ truyền thống, nơi bao bì thứ cấp hoặc bao bì vận chuyển thường không được người tiêu dùng trực tiếp nhìn thấy, trong TMĐT, bao bì vận chuyển chính là kiện hàng vật lý được giao đến địa chỉ người mua, qua đó trở thành một bộ phận hữu hình của quá trình hoàn tất đơn hàng và giao nhận mà người tiêu dùng trực tiếp tiếp xúc[6].

Cùng với sự phát triển của kinh tế tuần hoàn, bao bì được xem là một bộ phận của hệ thống sản phẩm, có tác động đến việc sử dụng tài nguyên, phát sinh chất thải và hiệu quả môi trường trong toàn bộ vòng đời. Cách tiếp cận này được phản ánh trong TCVN 12254:2018, theo đó tác động môi trường của bao bì cần được đánh giá xuyên suốt vòng đời từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất, phân phối đến thu hồi và xử lý[7]. Theo báo cáo của Ellen MacArthur Foundation, bao bì là nguồn tài nguyên cần được duy trì trong chu trình kinh tế thông qua tái sử dụng, tái chế và khả năng tuần hoàn phụ thuộc trước hết vào thiết kế[8]. Trên nền tảng đó, Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) đã hệ thống hóa và phát triển cơ chế EPR, theo đó nhà sản xuất chịu trách nhiệm cả ở giai đoạn sau tiêu dùng nhằm thúc đẩy thu gom, tái chế chất thải bao bì và khuyến khích thiết kế bao bì thân thiện với môi trường[9].

Từ các cách tiếp cận trên, trong phạm vi bài viết, bao bì sản phẩm trong TMĐT xanh được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm bao bì trực tiếp của sản phẩm mà còn cả bao bì, vật liệu thực hiện chức năng bao gói, bảo vệ và giao nhận hàng hóa, kể cả trong quá trình hoàn trả. So với thương mại truyền thống, sự khác biệt chủ yếu nằm ở bối cảnh và phạm vi sử dụng: trong TMĐT, bao bì vận chuyển trở thành thành phần trực tiếp của quá trình giao hàng và tiếp xúc với người tiêu dùng; đồng thời, dưới góc độ “xanh”, bao bì còn được xem xét về việc sử dụng tài nguyên, khả năng tái sử dụng, tái chế, thu hồi và tác động môi trường trong suốt vòng đời. Trên cơ sở đó, pháp luật về bao bì trong TMĐT xanh được hiểu là hệ thống các quy phạm điều chỉnh bao bì trong quá trình thiết kế, sản xuất, sử dụng, lưu thông, thu hồi và xử lý, hướng tới giảm tác động môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

3. Khung pháp lý về bao bì sản phẩm trong thương mại điện tử xanh tại Việt Nam

Thứ nhất, quy định về trách nhiệm môi trường đối với bao bì. Theo cách tiếp cận quản lý vòng đời và nguyên tắc EPR, pháp luật Việt Nam đã từng bước chuyển từ quản lý bao bì chủ yếu ở giai đoạn sau tiêu dùng sang quản lý xuyên suốt vòng đời, từ thiết kế, sản xuất, phân phối đến thu gom, tái chế và xử lý. Theo đó, trách nhiệm môi trường đối với bao bì ngày càng được xác định cụ thể, gắn với nghĩa vụ thu hồi, tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu. Điểm nổi bật là Nghị định số 110/2026/NĐ-CP[10] đã đưa bao bì vào diện phải thực hiện tái chế bắt buộc theo tỷ lệ và quy cách cụ thể đối với từng loại vật liệu[11], đồng thời cho phép doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn phương thức thực hiện nghĩa vụ như tự tái chế, thuê đơn vị tái chế, ủy quyền cho tổ chức PRO[12] hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam[13]. Cơ chế này góp phần nội hóa chi phí môi trường và nâng cao trách nhiệm của nhà sản xuất đối với chất thải bao bì. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chủ yếu tập trung vào giai đoạn sau tiêu dùng[14]. Các quy định tại Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các nghị định hướng dẫn chủ yếu điều chỉnh hoạt động thu gom, tái chế, đóng góp tài chính và báo cáo thực hiện EPR, trong khi các yêu cầu về thiết kế sinh thái, giảm thiểu vật liệu, tái sử dụng và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường chưa được quy định đầy đủ.

Thứ hai, quy định về ghi nhãn và thể hiện thông tin trên bao bì. Pháp luật Việt Nam đã có bước chuyển từ mô hình ghi nhãn truyền thống sang quản trị dữ liệu sản phẩm trong môi trường số. Cơ sở pháp lý chủ yếu là Nghị định số 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. So với Nghị định số 43/2017/NĐ-CP[15], pháp luật không còn giới hạn thông tin trên nhãn vật lý mà cho phép thể hiện dưới dạng điện tử với điều kiện bảo đảm truy xuất, lưu trữ và kiểm chứng dữ liệu. Đáng chú ý, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP lần đầu tiên ghi nhận cơ chế “hộ chiếu số của sản phẩm”[16], được thiết lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn với mã định danh duy nhất, tích hợp thông tin về xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và cảnh báo an toàn, có thể thay thế nhãn điện tử nếu đáp ứng đầy đủ nội dung bắt buộc. Bên cạnh đó, Luật Thương mại điện tử năm 2025 và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP mở rộng trách nhiệm công khai thông tin đối với cả người bán và chủ quản nền tảng TMĐT[17], yêu cầu bảo đảm khả năng kết nối dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định thống nhất việc công khai thông tin môi trường của bao bì như thành phần vật liệu, tỷ lệ vật liệu tái chế, khả năng tái sử dụng hoặc tái chế. Điều này làm giảm minh bạch thông tin và hạn chế khả năng nhận diện sản phẩm thân thiện môi trường. Nghiên cứu của Borin và cộng sự cho thấy mức độ đầy đủ và minh bạch của thông tin môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn của người tiêu dùng[18]. Hơn nữa, việc chưa thiết lập cơ chế kiểm chứng thông tin môi trường có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp đưa ra tuyên bố “xanh” thiếu cơ sở, làm gia tăng nguy cơ greenwashing[19].

Thứ ba, cơ chế phân bổ trách nhiệm pháp lý đối với bao bì. Nghị định số 110/2026/NĐ-CP đã hoàn thiện cơ chế trách nhiệm EPR như công cụ trung tâm nhằm kiểm soát, thu hồi và tái chế bao bì sau tiêu dùng. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện trách nhiệm tái chế đối với bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc, đồng thời chịu trách nhiệm đối với tác động môi trường của bao bì sau khi được đưa ra thị trường[20]. Để bảo đảm thực thi, pháp luật thiết lập cơ chế đăng ký, kê khai, báo cáo trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia[21]. Đối với bao bì khó tái chế, doanh nghiệp phải đóng góp tài chính bắt buộc[22]. Một điểm tiến bộ là pháp luật đã làm rõ chủ thể chịu trách nhiệm trong các mô hình chuỗi cung ứng phức tạp như gia công, ủy thác, nhập khẩu hoặc phân phối nhiều tầng.[23]

Tuy nhiên, cơ chế phân bổ trách nhiệm hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào nhà sản xuất và nhập khẩu. Trong khi đó, trách nhiệm của các chủ thể khác trong chuỗi TMĐT như sàn giao dịch điện tử, doanh nghiệp logistics, đơn vị đóng gói hoặc nhà bán hàng trực tuyến chưa được quy định đầy đủ. Khoảng trống này dẫn đến nguy cơ trách nhiệm môi trường bị tập trung vào nhà sản xuất, trong khi các chủ thể trực tiếp tham gia sử dụng và lưu thông bao bì chưa phải thực hiện nghĩa vụ tương xứng.

Thứ tư, cơ chế giám sát và thực thi. Nghị định 110/2026/NĐ-CP từng bước chuyển cơ chế giám sát EPR theo hướng dựa trên dữ liệu và số hóa, thông qua việc doanh nghiệp đăng ký kế hoạch tái chế, kê khai khối lượng bao bì, báo cáo kết quả và thực hiện nghĩa vụ tài chính trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia[24]. Cơ chế này góp phần tăng cường khả năng theo dõi, đối chiếu và giám sát việc thực hiện nghĩa vụ EPR, đồng thời bổ trợ cho các hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các quy định về kết nối, chia sẻ và đối soát dữ liệu giữa hệ thống này với các nền tảng TMĐT, doanh nghiệp logistics và cơ sở dữ liệu chuyên ngành vẫn chưa được quy định cụ thể. Ngoài ra, cơ chế giám sát hiện hành vẫn chủ yếu dựa trên dữ liệu tự kê khai, trong khi các quy định về đối soát, kiểm chứng độc lập còn hạn chế. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả phát hiện các trường hợp kê khai chưa chính xác hoặc chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tái chế trong thực tiễn.

4. Kinh nghiệm của một số quốc gia về pháp luật đối với bao bì sản phẩm trong thương mại điện tử xanh

4.1. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU)

Khác với mô hình truyền thống tập trung vào xử lý chất thải sau tiêu dùng, chính sách của EU được xây dựng trên The European Green Deal (2019)[25] và A New Circular Economy Action Plan (2020)[26], chuyển trọng tâm sang phòng ngừa phát sinh chất thải ngay từ khâu thiết kế. Trên cơ sở định hướng chính sách này, EU đã ban hành Quy định (EU) 2025/40 về Bao bì và Chất thải bao bì (Packaging and Packaging Waste Regulation – PPWR)[27], thiết lập khung pháp lý quản lý bao bì theo cách tiếp cận vòng đời nhằm thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Thứ nhất, kiểm soát bao bì dư thừa trong hoạt động TMĐT. Một điểm đáng chú ý của Quy định (EU) 2025/40 là kiểm soát trực tiếp lượng bao bì sử dụng trong quá trình đóng gói và giao nhận đơn hàng. Theo Điều 24, đối với bao bì nhóm, bao bì vận chuyển và bao bì TMĐT, tỷ lệ không gian trống sẽ bị giới hạn tối đa 50% theo lộ trình từ năm 2030; đặc biệt, khoảng trống chứa vật liệu chèn như giấy, túi khí, màng xốp hoặc mút xốp vẫn được tính vào tỷ lệ này. Đồng thời, bao bì bán hàng cũng phải được thiết kế và đóng gói với khoảng trống ở mức tối thiểu cần thiết để bảo vệ sản phẩm. Qua đó, Quy định (EU) 2025/40 chuyển yêu cầu giảm thiểu bao bì thành tiêu chí có thể định lượng và kiểm soát ngay tại khâu đóng gói, đặc biệt phù hợp với TMĐT, nơi thường phát sinh thêm bao bì phục vụ vận chuyển. Quy định này vì vậy tạo sức ép để doanh nghiệp tối ưu kích thước bao bì, hạn chế vật liệu chèn không cần thiết và giảm lượng chất thải phát sinh trong quá trình giao nhận.

Thứ hai, thúc đẩy tái sử dụng đối với bao bì vận chuyển. Điều 29 Quy định (EU) 2025/40 đặt ra mục tiêu tái sử dụng đối với bao bì vận chuyển và bao bì bán hàng được sử dụng để vận chuyển sản phẩm, bao gồm cả sản phẩm phân phối qua TMĐT. Từ năm 2030, ít nhất 40% số bao bì thuộc phạm vi quy định phải có khả năng tái sử dụng trong một hệ thống tái sử dụng; mục tiêu này được nâng lên 70% từ năm 2040. Đáng chú ý, quy định không chỉ áp dụng cho một dạng bao bì cụ thể mà bao quát nhiều loại bao bì vận chuyển như hộp, khay, thùng nhựa, pallet và các vật liệu dùng để cố định hàng hóa trong quá trình vận chuyển.

Ý nghĩa đặc biệt của quy định này đối với TMĐT là tạo ra yêu cầu chuyển dịch từ mô hình sử dụng bao bì một lần sang mô hình bao bì có khả năng quay vòng trong hệ thống tái sử dụng. Quy định (EU) 2025/40 không chỉ hướng đến giảm lượng chất thải bao bì sau giao hàng mà còn tác động ngay từ khâu lựa chọn và thiết kế bao bì phục vụ vận chuyển đơn hàng. Đặc biệt, việc quy định tỷ lệ tái sử dụng cụ thể tạo cơ sở để doanh nghiệp TMĐT từng bước xây dựng hệ thống thu hồi, quay vòng và tái sử dụng bao bì vận chuyển, qua đó giảm sự phụ thuộc vào bao bì dùng một lần trong hoạt động giao nhận.

Thứ ba, kiểm soát bao bì theo cách tiếp cận vòng đời. Quy định (EU) 2025/40 không chỉ yêu cầu tái chế mà còn kiểm soát các chất cấu thành bao bì, như kim loại nặng, PFAS và các hóa chất nguy hại ngay từ khâu thiết kế, sản xuất[28]. Cách tiếp cận này cho thấy quản lý bao bì của EU không chỉ tập trung vào khả năng xử lý, tái chế sau tiêu dùng mà còn kiểm soát đặc tính của bao bì ngay trước khi đưa vào lưu thông. Đối với TMĐT, yêu cầu này có ý nghĩa ở chỗ bao bì sử dụng cho đóng gói và vận chuyển đơn hàng phải được lựa chọn theo tiêu chí an toàn về thành phần và khả năng quản lý ở các giai đoạn tiếp theo của vòng đời. Qua đó, Quy định (EU) 2025/40 từng bước chuyển trọng tâm từ xử lý tác động môi trường ở cuối vòng đời sang phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro từ khâu thiết kế, lựa chọn vật liệu, tạo nền tảng cho mô hình bao bì TMĐT theo hướng tuần hoàn và an toàn hơn.

Thứ tư, lượng hóa yêu cầu về khả năng tái chế của bao bì. Theo Quy định (EU) 2025/40, khả năng tái chế không chỉ được đánh giá trên phương diện kỹ thuật mà còn phải dựa trên hiệu quả tái chế thực tế (Recital 31); từ năm 2035, việc tuân thủ được xác định bằng dữ liệu thu gom, phân loại và tái chế. Đồng thời, bao bì được xếp hạng hiệu suất tái chế theo các cấp A, B, C (Recital 28), từ năm 2038, chỉ bao bì đạt tối thiểu cấp B mới được đưa ra thị trường; bao bì dưới cấp C bị loại khỏi tiêu chuẩn tái chế và bao bì nhựa phải đáp ứng tỷ lệ tối thiểu vật liệu tái chế (Recital 36, 40). Cách tiếp cận này có ý nghĩa đối với TMĐT ở chỗ bao bì sử dụng để đóng gói và vận chuyển đơn hàng không chỉ được xem xét ở khả năng tái chế trên thiết kế mà còn ở khả năng thực sự tham gia vào hệ thống thu gom, phân loại và tái chế. Qua đó, EU chuyển yêu cầu về tính tuần hoàn của bao bì từ tiêu chí mang tính kỹ thuật sang các tiêu chí có thể đo lường và kiểm chứng, tạo cơ sở cho việc giám sát và thực thi trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp.

Đối với Việt Nam, giá trị tham khảo của EU không nằm ở việc áp dụng nguyên trạng các tiêu chuẩn định lượng, mà ở cách thức chuyển hóa mục tiêu TMĐT xanh thành các yêu cầu pháp lý cụ thể đối với bao bì. Theo đó, Việt Nam có thể từng bước hoàn thiện pháp luật theo hướng kiểm soát bao bì từ khâu thiết kế và sử dụng, thúc đẩy tái sử dụng bao bì vận chuyển, gắn EPR với yêu cầu về khả năng tái chế và tăng cường cơ chế đo lường, giám sát việc thực hiện. Việc lựa chọn mức độ và lộ trình áp dụng cần phù hợp với năng lực tái chế, hạ tầng thu gom và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

4.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Khác với EU, Hàn Quốc phát triển hệ thống điều chỉnh linh hoạt hơn, trọng tâm là phân loại và gắn nhãn bao bì.

Thứ nhất, bao bì được quản lý qua cơ chế phân loại và minh bạch hóa thông tin. Theo Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992[29], bao bì được xác định là một đối tượng điều chỉnh độc lập và phải gắn ký hiệu phân loại chất thải phù hợp với vật liệu và khả năng tái chế. Đồng thời, nhà sản xuất có nghĩa vụ đánh giá các đặc tính môi trường của bao bì như cấu trúc, trọng lượng và khả năng tái chế, đồng thời công bố kết quả đánh giá trên bao bì theo quy định tại Điều 9-4 và Điều 14. Cách tiếp cận này tích hợp thông tin môi trường ngay trên bao bì, qua đó nâng cao hiệu quả phân loại, thu gom và tái chế.

Thứ hai, các đặc tính môi trường của bao bì được “thị trường hóa” qua hệ thống nhãn môi trường. Theo Luật Hỗ trợ Công nghệ và Công nghiệp Môi trường năm 1994, “tác động môi trường của sản phẩm”[30] được xác định trên cơ sở các chỉ số đo lường được (phát thải chất ô nhiễm, khí nhà kính, tiêu thụ tài nguyên và năng lượng). Pháp luật thiết lập hai cơ chế: chứng nhận nhãn sinh thái đối với sản phẩm có tác động môi trường được cải thiện[31], và chứng nhận công bố môi trường sản phẩm với thông tin định lượng được xác nhận bởi tổ chức chuyên môn[32]. Điểm đặc trưng là Hàn Quốc không chỉ khuyến khích công bố mà còn xây dựng cơ chế kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra thị trường.

Thứ ba, nghĩa vụ tái chế vận hành qua EPR gắn với công cụ kinh tế. Theo Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992, nhà sản xuất và nhập khẩu phải thực hiện nghĩa vụ tái chế theo cơ chế EPR (Điều 16, 17), với nhiều phương thức như tự tái chế, ủy quyền cho tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính. Đồng thời, Hàn Quốc áp dụng các công cụ kinh tế như phí đối với phần nghĩa vụ chưa hoàn thành[33], phí đối với bao bì khó tái chế và cơ chế đặt cọc, hoàn trả đối với bao bì tái sử dụng[34]. Cách tiếp cận này nội hóa chi phí môi trường vào hoạt động sản xuất, tạo động lực cho doanh nghiệp cải tiến thiết kế bao bì và nâng cao khả năng tái chế, thay vì chỉ dựa vào các quy định bắt buộc.

Cách tiếp cận của Hàn Quốc cho thấy EPR không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là cơ chế điều tiết kinh tế, góp phần nội hóa chi phí môi trường và tạo động lực để doanh nghiệp chủ động cải thiện hiệu quả tái chế bao bì. Đây là kinh nghiệm có giá trị đối với Việt Nam trong việc kết hợp giữa trách nhiệm pháp lý và cơ chế khuyến khích nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện EPR.

4.3. Kinh nghiệm của Singapore

Thứ nhất, bao bì được đặt trong cơ chế kiểm kê và báo cáo bắt buộc dựa trên dữ liệu. Theo Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019[35], Singapore yêu cầu các doanh nghiệp thuộc diện áp dụng phải kê khai khối lượng bao bì đưa ra thị trường[36] và thực hiện báo cáo định kỳ về việc nhập khẩu[37], sử dụng bao bì[38]. Nghĩa vụ này được thực hiện ngay từ giai đoạn đưa bao bì vào lưu thông, không phụ thuộc vào việc bao bì đã trở thành chất thải hay chưa, qua đó đặt bao bì dưới sự giám sát pháp lý từ khâu sản xuất và phân phối.

Thứ hai, nghĩa vụ giảm thiểu bao bì được nội hóa vào quản trị doanh nghiệp thông qua kế hoạch 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế). Doanh nghiệp phải lập kế hoạch giảm thiểu bao bì, đồng thời báo cáo việc triển khai các biện pháp đã thực hiện trong thực tế[39]. Bên cạnh đó, luật còn quy định nghĩa vụ lưu trữ, theo dõi và cung cấp dữ liệu phục vụ hoạt động kiểm tra, đánh giá của cơ quan quản lý[40].

Thứ ba, trách nhiệm môi trường được thực hiện thông qua cơ chế giải trình và minh bạch thông tin. Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019 của Singapore yêu cầu nhà sản xuất thuộc diện áp dụng phải báo cáo về bao bì nhập khẩu hoặc sử dụng và đồng thời nộp kế hoạch giảm thiểu, tái sử dụng hoặc tái chế bao bì (3R plan) cho cơ quan quản lý[41]. Kế hoạch phải bao gồm thông tin về việc triển khai các nội dung đã đề ra; trường hợp báo cáo hoặc kế hoạch không đầy đủ, không chính xác, cơ quan quản lý có quyền yêu cầu doanh nghiệp sửa chữa, tính toán lại hoặc nộp lại[42]. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải lưu giữ đầy đủ, chính xác hồ sơ liên quan đến báo cáo, kế hoạch và hoạt động theo dõi, đánh giá việc tuân thủ để phục vụ kiểm tra[43]. Qua đó, pháp luật Singapore thiết lập cơ chế “báo cáo - lập kế hoạch - lưu giữ và kiểm chứng dữ liệu”, làm cơ sở cho cơ quan quản lý giám sát việc thực hiện trách nhiệm giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế bao bì của nhà sản xuất.

Có thể thấy, mô hình của Singapore được xây dựng trên tư duy quản trị dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình, thông qua cơ chế kiểm kê, báo cáo bắt buộc và kế hoạch 3R để kiểm soát dòng chảy của bao bì. Đối với Việt Nam, đây là kinh nghiệm quan trọng trong hoàn thiện hạ tầng dữ liệu môi trường, tăng cường kết nối thông tin và nâng cao hiệu quả thực hiện EPR theo hướng chuyển đổi số.

5. Từ kinh nghiệm quốc tế - giải pháp cho Việt Nam về định hướng hoàn thiện pháp luật bao bì sản phẩm trong thương mại điện tử xanh

Thứ nhất, bổ sung quy định về quản lý bao bì theo vòng đời đối với TMĐT.

Mặc dù Nghị định số 110/2026/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế EPR và quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc đối với từng loại vật liệu bao bì, song chưa có quy định riêng điều chỉnh đặc thù của bao bì trong hoạt động TMĐT. Do đó, cần bổ sung một chương hoặc mục riêng về bao bì trong hoạt động TMĐT vào Nghị định này, quy định: (i) giảm thiểu bao bì dư thừa và hạn chế sử dụng nhiều lớp bao gói không cần thiết; (ii) yêu cầu về khả năng tái chế, hàm lượng tối thiểu vật liệu tái chế trong bao bì giao nhận hàng hóa; (iii) tiêu chuẩn kỹ thuật đối với bao bì tái sử dụng và cơ chế thu hồi, tái sử dụng trong hoạt động logistics. Đề xuất này phù hợp với Quy định (EU) 2025/40 về quản lý bao bì theo vòng đời, góp phần giảm phát sinh chất thải từ khâu thiết kế, nâng cao hiệu quả thực hiện EPR và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong TMĐT.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế ghi nhãn và minh bạch thông tin môi trường của bao bì trên nền tảng TMĐT. Mặc dù Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đã ghi nhận hộ chiếu số sản phẩm và nhãn điện tử, nhưng chưa quy định bắt buộc công bố các thông tin môi trường của bao bì. Do đó, cần bổ sung và hướng dẫn cụ thể trong Nghị định số 37/2026/NĐ-CP hoặc các văn bản hướng dẫn có liên quan về: (i) nội dung thông tin môi trường bắt buộc phải thể hiện trên nhãn bao bì và hộ chiếu số sản phẩm đối với hàng hóa kinh doanh trên nền tảng TMĐT; (ii) tiêu chuẩn dữ liệu, định dạng thông tin môi trường để bảo đảm khả năng liên thông giữa các nền tảng; (iii) cơ chế kiểm chứng thông tin môi trường nhằm hạn chế hiện tượng greenwashing. Kinh nghiệm của Hàn Quốc tại Luật Hỗ trợ Công nghệ và Công nghiệp Môi trường năm 1994 cho thấy thông tin môi trường cần được lượng hóa và kiểm chứng bởi tổ chức chuyên môn trước khi đưa ra thị trường, kết hợp với hệ thống nhãn phân loại bao bì theo vật liệu. Bên cạnh đó, Đề xuất Chỉ thị về tuyên bố môi trường của Ủy ban châu Âu (Green Claims Directive, COM (2023) 166 final) cũng yêu cầu các tuyên bố môi trường phải có căn cứ khoa học và có thể kiểm chứng, là tham chiếu phù hợp để Việt Nam hoàn thiện cơ chế chống greenwashing trong TMĐT.

Thứ ba, mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm môi trường đối với bao bì trong chuỗi TMĐT. Hiện nay, cơ chế EPR chủ yếu áp dụng đối với nhà sản xuất và nhập khẩu, trong khi các chủ thể trực tiếp sử dụng, đóng gói và vận chuyển bao bì như sàn TMĐT, doanh nghiệp logistics và người bán trực tuyến chưa có nghĩa vụ tương xứng, dẫn đến khoảng trống trách nhiệm. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Luật Thương mại điện tử năm 2025 theo hướng như sau: (i) Quy định trách nhiệm của sàn TMĐT trong việc công khai, hỗ trợ truy xuất và cung cấp, chia sẻ thông tin, dữ liệu về bao bì trong phạm vi hợp lý; (ii) quy định trách nhiệm của doanh nghiệp logistics trong tối ưu hóa đóng gói và thu hồi bao bì; (iii) xác lập cơ chế phân bổ trách nhiệm theo nguyên tắc “người gây phát sinh” và “người kiểm soát dòng chảy”, bảo đảm mỗi chủ thể chịu trách nhiệm tương ứng với tác động môi trường do mình gây ra. Kinh nghiệm của Singapore theo Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019 cho thấy trách nhiệm môi trường có thể được mở rộng đối với mọi doanh nghiệp đủ quy mô thông qua nghĩa vụ xây dựng kế hoạch 3R và báo cáo định kỳ về lượng bao bì đưa ra thị trường. Cách tiếp cận này giúp phân bổ trách nhiệm đồng đều trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, khi vận dụng tại Việt Nam cần tính đến đặc thù của các hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ trên sàn TMĐT để tránh tạo gánh nặng tuân thủ không phù hợp.

Thứ tư, xây dựng cơ chế giám sát và liên thông dữ liệu về bao bì giữa cơ quan quản lý với nền tảng TMĐT và doanh nghiệp logistics. Mặc dù Nghị định số 110/2026/NĐ-CP đã thiết lập Hệ thống thông tin EPR quốc gia và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP yêu cầu kết nối dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia, nhưng chưa quy định cụ thể về tiêu chuẩn kỹ thuật, giao thức kết nối và phạm vi chia sẻ dữ liệu giữa Hệ thống EPR với sàn TMĐT và doanh nghiệp logistics. Do đó, cần bổ sung vào Nghị định số 110/2026/NĐ-CP hoặc ban hành văn bản hướng dẫn quy định như sau: (i) quy định tiêu chuẩn kỹ thuật và giao thức kết nối dữ liệu giữa Hệ thống EPR quốc gia với hệ thống của sàn TMĐT và doanh nghiệp logistics, bảo đảm khả năng trao đổi dữ liệu theo thời gian thực hoặc theo định kỳ; (ii) thiết lập cơ chế đối soát chéo giữa khối lượng bao bì do nhà sản xuất, nhập khẩu kê khai với dữ liệu giao nhận thực tế trên sàn TMĐT, qua đó phát hiện các trường hợp chênh lệch đáng kể giữa báo cáo và thực tế; (iii) xây dựng cơ chế kiểm chứng độc lập đối với báo cáo kết quả tái chế, không phụ thuộc hoàn toàn vào dữ liệu tự kê khai của doanh nghiệp.

Kinh nghiệm từ Singapore và EU cho thấy định hướng này hoàn toàn khả thi. Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019 của Singapore yêu cầu doanh nghiệp kê khai, báo cáo và lưu trữ dữ liệu về bao bì ngay từ khi đưa sản phẩm ra thị trường, đồng thời cho phép cơ quan quản lý kiểm tra, yêu cầu hiệu chỉnh để bảo đảm tính chính xác. Tương tự, Quy định (EU) 2025/40 gắn yêu cầu về khả năng tái chế của bao bì với dữ liệu thu gom, phân loại và tái chế thực tế, đồng thời lượng hóa các tiêu chí về hiệu suất tái chế. Đây là những kinh nghiệm phù hợp để Việt Nam hoàn thiện cơ chế liên thông và kiểm chứng dữ liệu về bao bì, qua đó nâng cao hiệu quả giám sát EPR và hoạch định chính sách môi trường dựa trên dữ liệu.

5. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy xu hướng pháp luật về bao bì trong TMĐT xanh đang chuyển từ quản lý chất thải sau tiêu dùng sang quản lý vòng đời, gắn với dữ liệu, minh bạch thông tin và kinh tế tuần hoàn. Kinh nghiệm của EU, Hàn Quốc và Singapore khẳng định bao bì đã trở thành đối tượng quản lý môi trường độc lập, giữ vai trò quan trọng trong phát triển TMĐT xanh. Mặc dù Việt Nam đã bước đầu hình thành cơ chế quản lý thông qua EPR, nhãn điện tử và các công cụ quản lý dữ liệu, nhưng vẫn còn khoảng trống về quản lý vòng đời bao bì, minh bạch thông tin, phân bổ trách nhiệm và cơ chế giám sát. Vì vậy, việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện pháp luật theo hướng quản lý vòng đời, tăng cường minh bạch thông tin, trách nhiệm chủ thể và xây dựng cơ chế giám sát là yêu cầu cần thiết nhằm thúc đẩy TMĐT xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, (được sửa đổi bổ sung năm 2022, 2025).

2. Quốc hội (2025), Luật Thương mại điện tử.

3. Chính phủ (2026), Nghị định 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

4. Chính phủ (2026), Nghị định số 110/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2018), TCVN 12254:2018 (ISO 18601:2013) - Bao bì và môi trường - Yêu cầu chung về sử dụng tiêu chuẩn trong lĩnh vực bao bì và môi trường, công bố theo Quyết định 1978/QĐ-BKHCN.

6. Hàn Quốc (1992), Act on the Promotion of Saving and Recycling of Resources 1992 (Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992), sửa đổi, bổ sung các năm 2003, 2009, 2018, 2023, 2025.

7. Hàn Quốc (1994), Environmental Technology and Industry Support Act 1994 (Luật Hỗ trợ công nghệ và công nghiệp môi trường năm 1994), sửa đổi, bổ sung các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2020.

8. Singapore (2019), Resource Sustainability Act 2019 (Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019), sửa đổi, bổ sung năm 2023.

9. Liên minh châu Âu (2024), Regulation (EU) 2025/40 on packaging and packaging waste (Quy định (EU) 2025/40 về bao bì và chất thải bao bì), sửa đổi Quy định (EU) 2019/1020 và Chỉ thị (EU) 2019/904, bãi bỏ Chỉ thị 94/62/EC.

10. OECD (2016), Extended Producer Responsibility: Updated Guidance for Efficient Waste Management, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/9789264256385-en

11. OECD (2024), Extended Producer Responsibility: Basic Facts and Key Principles, OECD Publishing, Paris, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2024/04/extended-producer-responsibility_4274765d/67587b0b-en.pdf

12. OECD (2025), Protecting and empowering consumers in the green transition: Misleading green claims, OECD Digital Economy Papers, No. 375, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/12f28e4f-en

13. Ellen MacArthur Foundation và McKinsey & Company (2016), The New Plastics Economy: Rethinking the Future of Plastics, https://www.ellenmacarthurfoundation.org/the-new-plastics-economy-rethinking-the-future-of-plastics

14. Trần Thị Thu Thủy và Trịnh Thị Ánh Tuyết (2025), Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR): Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Tập 75.

15. Borin, N., Cerf, D. C. và Krishnan, R. (2011), Consumer effects of environmental impact in product labeling, Journal of Consumer Marketing, Vol. 28, No. 1, tr. 76–86, https://doi.org/10.1108/07363761111101976.

16. Frommeyer, B., Koch, J., Scagnetti, C., Lorenz, M. & Schewe, G. (2024), “Recycled or reusable: A multi-method assessment of eco-friendly packaging in online retail”, Journal of Industrial Ecology, 28(1), pp. 100–115, DOI: 10.1111/jiec.13447.

17. Carl Marcus Wallenburg, Lukas Einmahl, Kang-Bok Lee, Shashank Rao (2021), “On packaging and product returns in online retail—Mailing boxes or sending signals?” Journal of Business Logistics, 42(2), 291–308. https://doi.org/10.1111/jbl.12273.

* Tiến sĩ, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1] Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2022 và năm 2025 (sau đây gọi tắt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020).

[2] Renata Krajewska, Ewa Ferensztajn-Galardos, Jerzy Wojciechowski (2025), Sustainable Development in the E-Commerce Sector: Challenges and Development Directions, European Research Studies Journal-Volume XXVIII, Issue 4, page 1101-1121 (2025)

[3] UNCTAD , Fostering environmentally sustainable electronic commerce, UNCTAD Policy Brief No. 117 (2025) https://unctad.org/publication/fostering-environmentally-sustainable-electronic-commerce?utml, cập nhật ngày 06/7/2026.

[4] Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 37 (2003)

[5] Frommeyer, B., Koch, J., Scagnetti, C., Lorenz, M. & Schewe, G., “Recycled or reusable: A multi-method assessment of eco-friendly packaging in online retail”, Journal of Industrial Ecology, 28(1), pp. 100–115 (2024), DOI: 10.1111/jiec.13447, truy cập ngày 05/9/2026.

[6] Carl Marcus Wallenburg, Lukas Einmahl, Kang-Bok Lee, Shashank Rao, On packaging and product returns in online retail—Mailing boxes or sending signals?, Journal of Business Logistics, 42(2), 291–308 (2021) https://doi.org/10.1111/jbl.12273, truy cập ngày 05/9/2026.

[7] Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12254:2018 (ISO 18601:2013) về Bao bì và môi trường - Yêu cầu chung về sử dụng tiêu chuẩn trong lĩnh vực bao bì và môi trường.

[8] Ellen MacArthur Foundation, The New Plastics Economy: Rethinking the Future of Plastics, (2016) https://content.ellenmacarthurfoundation.org/m/1775fbba280fa21/original/The-New-Plastics-Economy-Rethinking-the-future-of-plastics.pdf, truy cập ngày 06/7/2026.

[9] OECD, Extended Producer Responsibility: Updated Guidance for Efficient Waste Management, https://doi.org/10.1787/9789264256385-en, page 21 (2016)

[10] Nghị định số 110/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (sau đây gọi tăt là Nghị định số 110/2026/NĐ-CP).

[11] Phụ lục I - Danh mục sản phẩm, bao bì và tỷ lệ tái chế bắt buộc, quy cách tái chế bắt buộc – Nghị định 110/2026/NĐ-CP.

[12] Tổ chức PRO (Producer Responsibility Organization) là tổ chức thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất. Đây là đơn vị trung gian nhận ủy quyền từ các doanh nghiệp để thu gom, tái chế bao bì hoặc sản phẩm thải bỏ, nhằm đáp ứng các quy định về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).

[13] Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 01 tháng 04 năm 2026, Khoản 2 Điều 6

[14] Trần Thị Thu Thủy, Trịnh Thị Ánh Tuyết, Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (epr): Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Tập 75, năm 2025, tr 172-184 (2025)

[15] Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 04 năm 2017 của Chính phủ: Về nhãn hàng hóa

[16] Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Điều 32

[17] Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15, ngày 10 tháng 12 năm 2025, Điều 16, Điều 21

[18] Norm Borin, Douglas C. Cerf, Ram Krishnan, Consumer effects of environmental impact in product labeling, Journal of Consumer Marketing 28(1):76-86 (2011), https://doi.org/10.1108/07363761111101976, cập nhật ngày 25/5/2026.

[19] Greenwashing (thường được dịch là "tẩy xanh") là hành vi một doanh nghiệp/tổ chức sử dụng quảng cáo và PR để phóng đại hoặc đưa thông tin sai lệch về mức độ thân thiện với môi trường của sản phẩm, dịch vụ hay hoạt động của họ. Mục đích là lợi dụng xu hướng tiêu dùng xanh để đánh bóng tên tuổi và trục lợi.

[20] Nghị định số 110/2026/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 04 năm 2026 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5.

[21] Nghị định 110/2026/NĐ-CP, Điều 19

[22] Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, ngày 17 tháng 11 năm 2020, Khoản 1, 2 Điều 55

[23] Nghị định 110/2026/NĐ-CP, điểm a, b, c khoản 1 Điều 4

[24] Nghị định 110/2026/NĐ-CP, Điều 7, Điều 19

[25] European Green Deal (Thỏa thuận Xanh châu Âu) là chương trình nghị sự tổng thể của EU nhằm mục tiêu đưa châu Âu trở thành lục địa trung hòa khí hậu vào năm 2050.

[26] Circular Economy Action Plan (Kế hoạch hành động Kinh tế Tuần hoàn - CEAP) tập trung vào việc biến sản phẩm bền vững thành chuẩn mực, giảm thiểu rác thải, và tái thiết kế toàn bộ vòng đời sản phẩm.

[27] Quy định (EU) 2025/40 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng ngày 19 tháng 12 năm 2024 về bao bì và chất thải bao bì, sửa đổi Quy định (EU) 2019/1020 và Chỉ thị (EU) 2019/904, và bãi bỏ Chỉ thị 94/62/EC

[28] Recital (19), (20), (21), (25), Quy định (EU) 2025/40.

[29] Act on the Promotion of Saving and Recycling of Resources 1992 (Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992), sửa đổi, bổ sung các năm 2003, 2009, 2018, 2023, 2025 (sau đây gọi tắt là Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992).

[30] Luật Hỗ trợ Công nghệ và Công nghiệp Môi trường năm 1994, Khoản 5 Điều 2

[31] Luật Hỗ trợ Công nghệ và Công nghiệp Môi trường năm 1994, Điều 17

[32] Luật Hỗ trợ Công nghệ và Công nghiệp Môi trường năm 1994, Điều 18

[33] Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992, Điều 19

[34] Luật về Tiết kiệm tài nguyên và Thúc đẩy tái chế năm 1992, Điều 12 và Điều 15(2)

[35] Singapore (2019), Resource Sustainability Act 2019 (Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019), sửa đổi, bổ sung năm 2023 (sau đây gọi tắt là Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019).

[36] Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 201, Phần 4

[37] Đạo Luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 20

[38] Đạo Luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 21

[39] Đạo Luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 20 và Điều 21

[40] Đạo Luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 22, Điều 23

[41] Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 20, 21

[42] Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 21, 22

[43] Đạo luật Bền vững tài nguyên năm 2019, Điều 23