Vì sao Mỹ áp thuế 50% đối với hàng hóa Canada?
Ngày 22/8, Mỹ bắt đầu áp mức thuế bổ sung 50% đối với một loạt hàng hóa nhập khẩu từ Canada. Theo Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), số hàng hóa chịu thuế có tổng giá trị gần 20 tỷ USD. Các sản phẩm bị ảnh hưởng khá đa dạng, từ thực phẩm, đồ uống đến hàng tiêu dùng và dụng cụ thể thao.
Để áp dụng mức thuế này, Tổng thống Donald Trump viện dẫn Section 338 of the Tariff Act of 1930 (Điều 338 Đạo luật Thuế quan năm 1930 – quy định cho phép Tổng thống áp thêm thuế đối với hàng hóa của một quốc gia trong một số trường hợp nước này có biện pháp phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi cho thương mại Mỹ). Đây là một điều khoản có từ năm 1930 nhưng hiếm khi được sử dụng trong chính sách thương mại hiện đại của Mỹ.
Theo Điều 338, Tổng thống có thể áp mức thuế bổ sung không quá 50% nếu xác định một quốc gia áp dụng những khoản phí, quy định hoặc hạn chế bất hợp lý, không được thực hiện bình đẳng đối với hàng hóa tương tự của các quốc gia khác, hoặc có hành vi phân biệt đối xử khiến thương mại Mỹ rơi vào thế bất lợi.
Ngày 20/7, ông Trump ký ba tuyên bố dựa trên Điều 338, trong đó chính quyền Mỹ đưa ra các cáo buộc liên quan đến cách Canada đối xử với đồ uống có cồn, sản phẩm sữa và ô tô của Mỹ. Nhà Trắng cho rằng những chính sách này khiến hàng hóa Mỹ gặp bất lợi so với sản phẩm từ một số quốc gia khác.
Đối với đồ uống có cồn, Washington cho rằng một số tỉnh và vùng lãnh thổ Canada đã cấm hoặc hạn chế việc mua, phân phối và bán lẻ sản phẩm của Mỹ nhưng không áp dụng biện pháp tương tự đối với sản phẩm từ các quốc gia khác. Với sản phẩm sữa, Mỹ phản đối cách Canada phân bổ hạn ngạch thuế quan đối với pho mát Mỹ theo Hiệp định Mỹ - Mexico - Canada (USMCA), cho rằng sản phẩm của Mỹ bị đối xử bất lợi so với pho mát từ Liên minh châu Âu.
Tranh chấp trong lĩnh vực ô tô cũng được Washington đưa ra làm căn cứ. Chính quyền Trump cho rằng cơ chế thuế của Canada đối với xe và phụ tùng của Mỹ tạo ra sự đối xử bất lợi so với hàng hóa từ một số quốc gia khác. USTR tóm tắt lập trường của Washington rằng Canada đã loại rượu Mỹ khỏi các kệ hàng, dành điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn cho một số sản phẩm sữa của EU và hạn chế xuất khẩu xe của Mỹ sang Canada.
Ba tuyên bố ban đầu quy định mức thuế mới có hiệu lực từ ngày 19/8. Tuy nhiên, thời điểm áp dụng sau đó được lùi lại trong lúc Washington và Ottawa tiếp tục đàm phán. Hai bên cuối cùng không đạt được thỏa thuận và mức thuế 50% bắt đầu có hiệu lực vào ngày 22/8. Thủ tướng Canada Mark Carney cho rằng những yêu cầu được phía Mỹ bổ sung vào giai đoạn cuối của quá trình đàm phán là “không công bằng” và “không mang lại hiệu quả kinh tế”.
Canada sau đó tuyên bố đáp trả tương ứng. Theo kế hoạch được Chính phủ Canada công bố ngày 25/8, từ ngày 8/9 nước này sẽ áp các mức thuế 15%, 25% hoặc 50% đối với khoảng 27,6 tỷ CAD hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ, trong đó mức thuế đối với từng mặt hàng sẽ tương ứng với mức Mỹ áp lên sản phẩm Canada. Danh sách tập trung vào thép, sản phẩm sữa, đồ gia dụng, máy móc nông nghiệp, bột giấy, giấy và hàng điện tử.
Căng thẳng chưa dừng lại ở đó. Ông Trump tiếp tục tuyên bố sẽ nâng thuế đối với ô tô, xe tải, phụ tùng và thép từ Canada lên 50% từ ngày 1/1/2027, khiến nguy cơ cuộc đối đầu lan sang những ngành có chuỗi cung ứng gắn chặt giữa hai nước ngày càng lớn.
Canada có thể đáp trả Mỹ bằng cách nào?
Canada ở thế bất lợi nếu cuộc chiến thương mại kéo dài bởi Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của nước này. Năm 2025, 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Canada hướng tới Mỹ, dù tỷ lệ này đã giảm từ 75,9% của năm 2024.
Tuy nhiên mối quan hệ phụ thuộc này cũng không phải là mối quan hệ một chiều. Mỹ cũng cần nhiều hàng hóa và nguyên liệu từ Canada, trong đó năng lượng là một trong những lĩnh vực nổi bật nhất. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), năm 2025 Mỹ nhập khẩu khoảng 111 tỷ USD năng lượng từ Canada, trong khi xuất khẩu năng lượng sang Canada chỉ đạt khoảng 26 tỷ USD. Canada cũng tiếp tục là nguồn cung dầu thô lớn nhất của Mỹ, với lượng dầu thô Mỹ nhập từ nước này đạt trung bình khoảng 3,9 triệu thùng/ngày trong năm 2025.
Một mặt hàng khác mà Canada có lợi thế đáng kể là kali, nguyên liệu chủ yếu được sử dụng trong sản xuất phân bón. Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) cho biết khoảng 90% lượng kali nhập khẩu ròng của Mỹ năm 2023 đến từ Canada. Chính quyền Trump cũng đã loại năng lượng và kali khỏi phạm vi của đợt thuế theo Điều 338 vừa được áp dụng.
Những lợi thế này khiến một số lãnh đạo Canada để ngỏ khả năng sử dụng các biện pháp mạnh hơn nếu tranh chấp tiếp tục leo thang. Thủ hiến Ontario Doug Ford cho rằng điện, nhiên liệu, kali và uranium đều có thể được đặt lên bàn cân. Tuy nhiên, đây mới là những phương án được ông Ford nêu ra, không phải các biện pháp đã được Chính phủ Canada quyết định áp dụng.
Trước mắt, Ottawa vẫn lựa chọn thuế quan làm biện pháp đáp trả chính. Đáng chú ý, danh sách công bố ngày 25/8 bao gồm hơn 700 sản phẩm của Mỹ, với các mức thuế khác nhau tùy mặt hàng. Bộ trưởng Công nghiệp Canada Mélanie Joly cho biết việc lựa chọn hàng hóa cũng nhằm tạo sức ép lên những khu vực của Mỹ có thể chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại.
Canada còn có một công cụ khác khó đo lường hơn là sức mua của người dân. Trong các vòng căng thẳng trước đó, việc nhiều tỉnh bang loại đồ uống có cồn của Mỹ khỏi hệ thống phân phối đã trực tiếp trở thành một trong những lý do mà chính quyền Trump viện dẫn khi áp dụng Điều 338. Chính tuyên bố của Nhà Trắng ngày 20/7 cho rằng các biện pháp này đã khiến doanh nghiệp đồ uống Mỹ mất cơ hội bán hàng tại Canada.
Dù vậy, những biện pháp mạnh như hạn chế năng lượng hoặc nguyên liệu xuất khẩu sang Mỹ cũng có thể gây thiệt hại ngược cho doanh nghiệp Canada. Vì vậy, lợi thế của Ottawa không nằm ở khả năng tránh được tổn thất trong một cuộc chiến thương mại, mà ở việc hai nền kinh tế phụ thuộc đủ sâu vào nhau để chi phí của cuộc đối đầu khó chỉ dừng lại ở phía Canada.
Đòn thuế quan có thể gây sức ép ngược trở lại nước Mỹ
Canada khó tránh khỏi thiệt hại nếu cuộc chiến thương mại kéo dài. Tuy nhiên, chính mức độ gắn kết sâu giữa hai nền kinh tế cũng khiến Washington khó gia tăng sức ép lên Ottawa mà không tạo ra những tác động ngược đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ.
Những lo ngại về tác động ngược đã bắt đầu xuất hiện tại các cộng đồng nằm hai bên biên giới. Thị trưởng Sarnia Mike Bradley cảnh báo cuộc chiến thương mại có thể trở thành một nhân tố gây ra tình trạng thất nghiệp cho thành phố của ông. Sarnia là một trung tâm hóa dầu lớn của Ontario và xuất khẩu nhiều sản phẩm nhựa, trong khi một số sản phẩm thuộc lĩnh vực này nằm trong diện chịu thuế mới của Mỹ.
Ở phía Mỹ, Thống đốc Michigan Gretchen Whitmer cũng cho rằng người dân bang này chịu ảnh hưởng đặc biệt bởi tranh chấp thương mại với Canada. Theo bà, thuế quan có thể làm tăng chi phí cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, đồng thời gây sức ép lên ngành sản xuất ô tô của bang. Thống đốc New York Kathy Hochul cũng chỉ trích việc Washington tiếp tục gây căng thẳng thương mại với một đồng minh.
Nguyên nhân là nhiều chuỗi cung ứng giữa Mỹ và Canada đã được xây dựng xuyên biên giới trong nhiều năm. Trong lĩnh vực năng lượng, EIA cho biết hệ thống đường ống hiện có khiến Mỹ vẫn là thị trường quan trọng nhất đối với dầu thô Canada, trong khi nhiều nhà máy lọc dầu của Mỹ được thiết kế phù hợp với loại dầu thô nặng mà Canada sản xuất. Sự phụ thuộc này khiến việc gián đoạn thương mại có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp ở cả hai phía.
Đối với các doanh nghiệp Mỹ nhập khẩu hàng hóa từ Canada, thuế quan đồng nghĩa với chi phí đầu vào cao hơn. Các doanh nghiệp có thể phải điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh và một phần chi phí tăng thêm cuối cùng có thể được chuyển sang người tiêu dùng.
Cuộc chiến thuế quan còn có thể gây bất lợi cho đảng Cộng hòa khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ đang đến gần. Đây là cuộc bầu cử được tổ chức vào giữa nhiệm kỳ 4 năm của Tổng thống, trong đó cử tri sẽ bầu lại toàn bộ Hạ viện và khoảng một phần ba số ghế Thượng viện. Maine, Michigan và Ohio đều có quan hệ thương mại chặt chẽ với Canada, trong khi các cuộc đua vào Thượng viện tại những bang này đang diễn ra sít sao. Nếu thuế quan khiến chi phí của doanh nghiệp và người dân tiếp tục tăng, các ứng viên Cộng hòa tại đây có thể phải chịu thêm sức ép từ cử tri.
Một trong những tiếng nói phản đối đáng chú ý đến từ Thượng nghị sĩ Cộng hòa Susan Collins của bang Maine. Bà gọi việc áp thêm thuế đối với Canada là một “sai lầm” và kêu gọi hai bên trở lại bàn đàm phán. Trong tuyên bố chính thức ngày 22/8, bà Collins cho rằng tình trạng đàm phán thương mại liên tục được nối lại rồi gián đoạn giữa Mỹ và Canada đang làm gia tăng chi phí, rủi ro và sự bất ổn đối với các doanh nghiệp tại Maine. Theo bà, nếu chính quyền tiếp tục áp thuế, phần chi phí tăng thêm cuối cùng có thể được doanh nghiệp chuyển sang người tiêu dùng.
Canada cũng không che giấu ý định sử dụng sức ép kinh tế để tác động tới những khu vực có ý nghĩa chính trị đối với chính quyền Tổng thống Trump. Thủ hiến Ontario Doug Ford tuyên bố nếu Washington tiếp tục leo thang, Canada cần tận dụng các lợi thế của mình và tập trung sức ép vào những bang ủng hộ mạnh đảng Cộng hòa.