Hoàn thiện pháp luật về định giá carbon tại Việt Nam:

Tích hợp công cụ thuế và phân bổ nguồn thu hỗ trợ chuyển đổi

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế carbon là yêu cầu cấp thiết nhằm ứng phó CBAM, bảo đảm phân bổ nguồn thu minh bạch và thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi năng lượng.

Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam đẩy nhanh lộ trình hướng tới mục tiêu Net-Zero 2050 và chủ động ứng phó với Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu từ năm 2026, việc hoàn thiện khung pháp lý định giá carbon là yêu cầu cấp thiết. Bài viết nghiên cứu thiết kế cơ chế thuế carbon trong tương quan với hệ thống thuế gián thu hiện hành nhằm kiểm soát tính lũy thoái và đảm bảo sự đồng thuận xã hội. Thông qua phân tích thực trạng và đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp từ Singapore và Colombia, nghiên cứu chỉ ra những thách thức thiết kế tiềm ẩn khi áp dụng cơ chế hoàn trả doanh thu có mục tiêu trong bối cảnh các quy định quản lý tài chính công hiện nay. Từ đó, bài viết đề xuất cơ chế thuế carbon tích hợp và lộ trình lập pháp nhằm phân bổ nguồn thu hỗ trợ chuyển đổi mà không làm trái với Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025. Đồng thời, bài viết khẳng định vai trò then chốt của Danh mục phân loại xanh quốc gia (theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg) như một màng lọc kỹ thuật pháp lý nhằm xác định tiêu chuẩn đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp. Cơ chế này góp phần đảm bảo nguồn thu từ thuế carbon được phân bổ hiệu quả, minh bạch, hạn chế tình trạng tẩy xanh và tạo động lực thực chất cho quá trình chuyển đổi năng lượng của cộng đồng doanh nghiệp.
Từ khoá: Thuế carbon, thuế gián thu, phân bổ nguồn thu, chi phí tuân thủ
Abstract: In the context of Vietnam accelerating its roadmap toward the 2050 Net-Zero target and proactively responding to the European Union's Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM) starting in 2026, perfecting the legal framework for carbon pricing is an urgent requirement. This paper examines the design of a carbon tax mechanism in relation to the existing indirect tax system to mitigate regressivity and ensure social consensus. Through an analysis of current practices and a comparison with legislative experiences from Singapore and Colombia, the study highlights potential design challenges when implementing a targeted revenue recycling mechanism within current public financial management regulations. Consequently, the paper proposes an integrated carbon tax mechanism and a legislative roadmap for transition-support revenue allocation without contravening the 2025 State Budget Law. Furthermore, it asserts the pivotal role of the National Green Taxonomy (pursuant to Decision No. 21/2025/QD-TTg) as a legal-technical filter to establish standards for corporate investment projects. This mechanism contributes to ensuring that carbon tax revenue is redistributed efficiently and transparently, mitigates the risk of greenwashing and creates genuine incentives for the business community's energy transition.
Keywords: Carbon tax, indirect tax, revenue allocation, compliance costs

1. Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang vượt ra khỏi các giới hạn cảnh báo môi trường thuần túy để trở thành một rủi ro mang tính hệ thống đối với nền tảng an ninh kinh tế vĩ mô của mọi quốc gia. Đối với một nền kinh tế đang phát triển và có đường bờ biển dài như Việt Nam, các tác động tiêu cực từ hiện tượng nóng lên toàn cầu không chỉ hiện hữu qua các hiện tượng thời tiết cực đoan mà còn trực tiếp đe dọa chuỗi cung ứng nông nghiệp và công nghiệp nặng. Đặc biệt, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là vùng trũng chịu mức độ tổn thương sâu sắc nhất trước kịch bản nước biển dâng và xâm nhập mặn[1]. Trong bối cảnh đó, tại Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) năm 2021 và được cập nhật trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) năm 2022, Việt Nam đã đưa ra cam kết mạnh mẽ: giảm 15,8% tổng lượng phát thải khí nhà kính bằng nguồn lực nội địa vào năm 2030 (có thể lên tới 43,5% nếu có hỗ trợ quốc tế) và đặc biệt là mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng không (Net-Zero) vào năm 2050.

Cam kết Net-Zero 2050 đã kích hoạt một quá trình tái cấu trúc nền tảng pháp lý và kinh tế rộng lớn. Động lực thúc đẩy quá trình này không chỉ xuất phát từ nhu cầu nội tại nhằm bảo vệ môi trường mà còn bị chi phối mạnh mẽ bởi các áp lực ngoại biên từ trật tự thương mại toàn cầu mới. Đáng chú ý nhất là Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) do Liên minh Châu Âu (EU) ban hành, đã chính thức vận hành cơ chế mua và nộp chứng chỉ từ năm 2026 theo một lộ trình tăng dần nghĩa vụ tài chính. Cơ chế này buộc các nhà nhập khẩu tại EU phải mua chứng chỉ tương đương với giá carbon nội khối đối với các nhóm hàng hóa thâm dụng năng lượng cao như sắt thép, xi măng, nhôm và phân bón. Tuy nhiên, nghĩa vụ này có thể được khấu trừ tương ứng với mức giá carbon đã được chi trả tại quốc gia xuất xứ. Nếu hệ thống pháp luật trong nước không kịp thời thiết lập một cơ chế định giá carbon nội địa, điều này đặt ra nguy cơ rò rỉ carbon (carbon leakage) khi dòng vốn đầu tư có thể dịch chuyển sang các quốc gia khác, đồng thời nghĩa vụ tài chính từ quá trình sản xuất tại Việt Nam có khả năng sẽ chảy về ngân sách của EU thay vì được giữ lại để tái đầu tư trong nước.

Để đối phó với thực trạng trên, công cụ thuế carbon được giới khoa học pháp lý và kinh tế thừa nhận là một trong những đòn bẩy quan trọng nhằm thực thi nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Bằng cách ấn định một mức giá trực tiếp lên mỗi tấn CO2 tương đương (CO2e) phát thải ra môi trường, thuế carbon buộc các chủ thể kinh doanh phải nội hóa chi phí ngoại ứng tiêu cực vào giá thành sản phẩm[2]. Mặc dù vậy, trong bối cảnh hệ thống tài chính quốc tế đang định hình lại định nghĩa về sự công bằng - từ các sáng kiến chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) hướng tới các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) - công bằng thuế không chỉ dừng lại ở việc điều tiết vĩ mô mà còn đòi hỏi khả năng phân bổ lại gánh nặng chi phí môi trường một cách hợp lý. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật thuế hiện hành có cấu trúc phụ thuộc nặng nề vào các nguồn thu gián thu (bao gồm Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Tiêu thụ đặc biệt và Thuế Bảo vệ môi trường). Bản chất pháp lý và kinh tế của thuế gián thu là tính lũy thoái nếu không có cơ chế giảm trừ hoặc hỗ trợ mục tiêu, nghĩa là thuế được cấu thành trực tiếp vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng cuối cùng sẽ gánh chịu một phần hoặc phần lớn nghĩa vụ tài chính này, tùy thuộc vào độ co giãn của cung và cầu trên thị trường. Do đó, nếu thiết kế thêm một sắc thuế carbon đánh trực tiếp vào nhiên liệu hóa thạch mà không có cơ chế điều chỉnh cấu trúc tổng thể, Việt Nam sẽ đối mặt với rủi ro cộng dồn chi phí tuân thủ và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng xã hội.

Để giải quyết vấn đề trên, bài viết tập trung đánh giá và trả lời hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: i) các phương án thiết kế cấu trúc thuế carbon cần được lựa chọn như thế nào để kiểm soát rủi ro cộng dồn chi phí tuân thủ khi vận hành trong cùng hệ sinh thái với hệ thống giao dịch phát thải (Emissions Trading System - ETS) và ii) cơ chế phân bổ nguồn thu cần được luật hóa ra sao để giảm thiểu tính lũy thoái xã hội mà không vi phạm nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước tập trung. Về phạm vi, nghiên cứu không đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật môi trường mà giới hạn ở lăng kính kỹ thuật lập pháp và thể chế tài chính công tại Việt Nam. Nhằm giải quyết các câu hỏi này, bài viết vận dụng kết hợp ba phương pháp nghiên cứu chính:

i) Phương pháp phân tích kinh tế - luật sử dụng các giả định về tác động chi phí tuân thủ (thông qua việc quy đổi mức thu thuế bảo vệ môi trường hiện hành sang giá carbon tương đương) và tính phân phối làm hệ quy chiếu để xây dựng công thức quyết toán thuế;

ii) Phương pháp so sánh luật học theo chức năng được vận dụng theo hướng tiếp cận vi mô, tập trung giải quyết hai điểm nghẽn pháp lý độc lập. Trục so sánh thứ nhất khảo sát cơ chế xác định căn cứ tính thuế và sự tương tác với chứng từ giảm phát thải, trong đó mô hình của Colombia được chọn làm hệ quy chiếu nhờ sự tương đồng với Việt Nam về bối cảnh vận hành song song thuế carbon định mức và nỗ lực phát triển thị trường tín chỉ nội địa. Trục so sánh thứ hai phân tích cơ chế quản lý nguồn thu theo nguyên tắc ngân sách tập trung, sử dụng quy tắc Quỹ hợp nhất (Consolidated Fund) của Singapore làm mẫu số chung để đối chiếu với rào cản hiến định tại Điều 8 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025 của Việt Nam. Khả năng chuyển giao của các quy phạm này được đánh giá dựa trên mức độ tương thích với năng lực quản trị hành chính và cấu trúc pháp luật hiện hành của Việt Nam.

iii) Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng xuyên suốt nhằm bóc tách các điểm nghẽn trong pháp luật hiện hành (thuế, ngân sách, môi trường), từ đó tổng hợp thành một khung kiến nghị hoàn thiện cơ chế định giá carbon đồng bộ tại Việt Nam.

2. Cơ sở lý luận về tích hợp công cụ định giá carbon và cơ chế phân bổ nguồn thu

2.1. Học thuyết thuế Pigou và cơ chế phân bổ lại nguồn thu (revenue recycling) trong quy định pháp luật về thuế môi trường

Nền tảng lý luận sâu sắc nhất biện minh cho sự ra đời của các sắc thuế điều tiết môi trường bắt nguồn từ học thuyết kinh tế pháp lý về thuế Pigou, do nhà kinh tế học Arthur Pigou khởi xướng. Theo học thuyết này, các hoạt động sản xuất công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch luôn sinh ra các ngoại ứng tiêu cực - cụ thể là tình trạng ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính làm biến đổi khí hậu. Do thị trường tự do không thể tự động tính toán các chi phí tổn thất xã hội này vào giá thành sản phẩm dẫn đến hiện tượng thất bại của thị trường khi hàng hóa thâm dụng carbon luôn có giá thành rẻ hơn so với chi phí thực tế mà xã hội phải gánh chịu. Theo đó, những học giả theo quan điểm này cho rằng nhà nước cần quy định thuế Pigou để can thiệp vào quá trình này bằng cách áp một mức thuế suất đúng bằng chi phí tổn thất biên do ngoại ứng gây ra, từ đó thực thi cơ chế nội hóa ngoại ứng tiêu cực (internalizing externalities) để buộc người gây ô nhiễm phải chi trả toàn bộ chi phí xã hội phát sinh[3].

Tuy nhiên, khi dịch chuyển từ lý thuyết Pigou thuần túy sang kỹ thuật lập pháp thực tế, một rào cản lớn phát sinh: Thuế phát thải môi trường có nguy cơ tác động tiêu cực lên các hoạt động đầu tư và triệt tiêu tính năng động kinh tế nếu nó chỉ đơn thuần làm gia tăng tổng quy mô thu ngân sách của Chính phủ. Để hóa giải điều này, nhiều quốc gia đã lựa chọn thiết kế chính sách dựa trên cơ chế phân bổ lại nguồn thu.

Dưới góc độ luật tài chính công, do nguyên tắc quản lý ngân sách tập trung (không gán cứng nguồn thu), khoản thuế carbon sau khi nộp sẽ hòa vào quỹ ngân sách chung và không có cơ chế truy nguyên pháp lý trực tiếp từ khoản thu chuyên biệt sang một khoản chi cụ thể. Do đó, cơ chế phân bổ lại nguồn thu không nên được hiểu theo nghĩa cơ học là dòng tiền thuế trực tiếp quay trở lại nền kinh tế. Thay vào đó, một khoản chi ngân sách thông thường chỉ được phân loại là phân bổ lại nguồn thu khi và chỉ khi Nhà nước có cam kết chính sách rõ ràng: sử dụng phần dư địa tài chính mở rộng (được tạo ra từ nguồn thu thuế carbon) để gia tăng tương ứng quy mô dự toán cho các chương trình chi hỗ trợ có mục tiêu hoặc tài trợ cho các đợt cắt giảm sắc thuế khác (như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) nhằm giảm gánh nặng cho nền kinh tế.

Việc pháp điển hóa cơ chế phân bổ nguồn thu hướng tới việc hiện thực hóa giả thuyết “lợi ích kép”. Lợi ích thứ nhất là sự cải thiện trực tiếp chất lượng môi trường và giảm lượng phát thải carbon nhờ cơ chế điều tiết giá cả. Lợi ích thứ hai đạt được khi cơ quan lập pháp sử dụng nguồn thu thuế carbon để tài trợ cho các nỗ lực khử carbon hoặc bù đắp cho phần cắt giảm các sắc thuế vốn đang gây tác động tiêu cực đến sức tăng trưởng kinh tế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân ...Dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, cơ chế phân bổ nguồn thu có mục tiêu sẽ biến thuế carbon từ một công cụ mang tính chất điều tiết hành vi thành một cơ chế tái cấu trúc hệ thống thuế theo hướng thông minh hơn: đánh thuế vào hành vi phát thải, ô nhiễm để có không gian tài chính giảm thuế cho thu nhập, lao động, đầu tư.

2.2. Bản chất lũy thoái của hệ thống thuế gián thu và tính bổ trợ của cơ chế phân bổ nguồn thu

Khi thiết kế cơ chế định giá carbon, một trong những thách thức pháp lý và kinh tế lớn nhất là sự tương tác với bản chất vận hành thực tế của hệ thống thuế gián thu - sắc thuế chiếm tỷ trọng chủ đạo trong cơ cấu ngân sách của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Khác với thuế trực thu được tính toán dựa trên năng lực tài chính và thu nhập thực tế của người nộp thuế (đảm bảo tính lũy tiến), thuế gián thu được cấu thành thẳng vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ và áp dụng đồng nhất cho mọi chủ thể tiêu dùng.

Thách thức trong việc lồng ghép thuế carbon vào hệ thống thuế gián thu hiện hành thể hiện qua hai khía cạnh kỹ thuật pháp lý sau:

Một là, cơ chế dịch chuyển nghĩa vụ thuế. Khi Nhà nước đánh thuế vào các yếu tố đầu vào mang tính thượng nguồn của nền kinh tế như than đá, xăng dầu hay khí tự nhiên, các doanh nghiệp sản xuất và phân phối năng lượng hiếm khi gánh chịu chi phí này bằng lợi nhuận thuần của họ. Thay vào đó, thông qua cơ chế chuyển giá, một phần hoặc phần lớn gánh nặng thuế sẽ được dịch chuyển, tích hợp trực tiếp vào giá bán điện, giá vận tải và giá thành của mọi sản phẩm tiêu dùng hạ nguồn, tùy thuộc vào độ co giãn cung - cầu và cấu trúc của từng thị trường. Người nộp thuế trên danh nghĩa pháp lý (doanh nghiệp năng lượng) hoàn toàn khác với người thực tế gánh chịu nghĩa vụ thuế (người tiêu dùng cuối cùng).

Hai là, bản chất lũy thoái xã hội. Do chi phí năng lượng và nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu (điện sinh hoạt, xăng dầu đi lại, lương thực) chiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập của các hộ gia đình có thu nhập thấp lớn hơn rất nhiều so với các hộ gia đình giàu có, thuế gián thu mang tính lũy thoái nặng nề[4]. Một sắc thuế carbon nếu được cấy ghép vào cấu trúc thuế gián thu mà thiếu đi cơ chế phân bổ nguồn thu sẽ hoạt động như một khoản chi phí gia tăng đánh thẳng vào sinh kế của người nghèo. Người có thu nhập thấp sẽ phải chi trả một tỷ lệ phần trăm thu nhập cao hơn cho cùng một nghĩa vụ thuế carbon so với người có thu nhập cao.

Từ các phân tích trên có thể thấy, tính lũy thoái và cơ chế phân bổ nguồn thu không phải là hai yếu tố xung đột mà nằm ở hai tầng phân tích khác nhau của chính sách công: một bên là cách gánh nặng thuế được phân bổ, một bên là cách sử dụng nguồn thu tăng thêm. Sự kết hợp giữa cơ chế dịch chuyển nghĩa vụ thuế và tính lũy thoái tạo ra một điểm nghẽn lập pháp lớn: Thuế carbon càng đạt hiệu quả cao trong việc nâng giá nhiên liệu để ép doanh nghiệp đổi mới công nghệ thì nó càng gây áp lực lạm phát chi phí đẩy lên toàn bộ nền kinh tế và làm gia tăng sự bất bình đẳng xã hội. Đây chính là lý do vì sao việc thiết lập một khung pháp lý giải quyết tính lũy thoái thông qua cơ chế phân bổ nguồn thu mang tính bổ trợ là điều quan trọng để đảm bảo sự đồng thuận chính trị và tính khả thi của chính sách thuế xanh[5].

3. Thực trạng pháp lý điều tiết phát thải tại Việt Nam và thách thức trong việc thiết kế cơ chế định giá carbon

Về phương diện cấu trúc pháp lý hiện hành, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa chính thức thiết lập một sắc thuế carbon trực tiếp dưới dạng đánh thuế độc lập trên từng đơn vị khối lượng phát thải khí nhà kính. Thay vào đó, định hướng chuyển dịch sang nền kinh tế thấp carbon hiện đang được vận hành dựa trên một hệ thống các chính sách thuế mang tính gián tiếp và các thiết chế ưu đãi tài chính. Sự kết hợp giữa thuế bảo vệ môi trường, các khoản miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân cùng với việc chuẩn bị nền tảng cho thị trường carbon nội địa đang tạo thành bộ khung bước đầu, qua đó thể hiện nỗ lực của Chính phủ trong việc thực thi cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 và tạo tiền đề ứng phó với đạo luật CBAM của EU từ năm 2026. Dù vậy, các công cụ này đang bộc lộ những bất cập, hạn chế về tính đồng bộ, đặc biệt là nguy cơ cộng dồn chi phí và sự đan xen phức tạp về nghĩa vụ tuân thủ.

3.1. Kỹ thuật pháp lý của thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu hóa thạch và giới hạn điều tiết

Theo Luật Thuế Bảo vệ Môi trường, công cụ điều tiết chính đối với lượng phát thải carbon hiện nay là sắc thuế gián thu áp dụng lên các sản phẩm gốc hóa thạch như xăng, dầu, than đá ở khâu sản xuất và nhập khẩu. Về bản chất kinh tế, công cụ này nhằm gia tăng chi phí sử dụng năng lượng thâm dụng carbon, qua đó đóng vai trò như một dạng thuế carbon gián tiếp (định giá carbon ẩn - implicit carbon pricing).

Tuy nhiên, giới hạn pháp lý lớn nhất của sắc thuế này nằm ở phương pháp tính thuế. Thuế được ấn định bằng mức thu tuyệt đối trên đơn vị thể tích hoặc khối lượng hàng hóa vật lý mà không dựa trên hàm lượng carbon tương đương của từng loại nhiên liệu. Cụ thể, trong năm 2025, mức thuế bảo vệ môi trường đang được duy trì ở mức giảm đáng kể so với khung trần do Quốc hội quy định: xăng (ngoại trừ etanol) chịu mức thuế 2.000 đồng/lít; dầu diesel, dầu mazut, dầu nhờn là 1.000 đồng/lít; dầu hỏa 600 đồng/lít[6]. Đáng chú ý, cơ sở tính thuế này chỉ áp dụng rập khuôn trên phần xăng dầu gốc hóa thạch mà loại trừ hoàn toàn phần tỷ lệ nhiên liệu sinh học.

Dưới lăng kính phân tích kinh tế - luật, việc quy đổi mức thu tuyệt đối này sang giá carbon tương đương cho thấy sự phân hóa rất lớn về gánh nặng chi phí tuân thủ giữa các loại nhiên liệu. Đối với mặt hàng xăng, dựa trên hệ số phát thải tiêu chuẩn khoảng 2,3 kg CO2 sinh ra cho mỗi lít xăng bị đốt cháy[7], mức thuế 2.000 đồng/lít hiện hành đang tương đương với mức giá khoảng 870.000 đồng cho mỗi tấn CO2e phát thải, xấp xỉ 35 USD/tấn CO2e (theo tỷ giá quy đổi hiện hành). Tuy nhiên, bức tranh phân phối chi phí lại hoàn toàn trái ngược đối với than đá - nguồn nhiên liệu hóa thạch phát thải lớn nhất trong khối công nghiệp nặng. Mức Thuế bảo vệ môi trường đối với than đá hiện hành chỉ dao động từ 15.000 đến 30.000 đồng/tấn vật lý. Ước tính với hệ số phát thải trung bình khoảng 2,5 tấn CO2 sinh ra từ việc đốt 1 tấn than chuẩn[8] mức giá carbon ẩn mà các cơ sở thâm dụng năng lượng này đang thực tế chi trả là chưa tới 0,5 USD/tấn CO2e. Sự chênh lệch khổng lồ này (35 USD/tấn đối với xăng so với dưới 0,5 USD/tấn đối với than) chứng minh rằng: Việc duy trì mức thuế được ấn định theo khối lượng vật lý thay vì hàm lượng carbon đã làm vô hiệu hóa chức năng nội hóa chi phí ngoại ứng của học thuyết Pigou. Mức thu hiện hành không phản ánh đúng chi phí xã hội do phát thải carbon gây ra và phát đi một tín hiệu giá sai lệch: dồn gánh nặng điều tiết lên khu vực giao thông vận tải nhưng lại tạo ra lỗ hổng lớn về chi phí môi trường đối với khu vực công nghiệp phát thải khổng lồ. Điều này dẫn đến hệ quả là lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng phát thải áp đảo trong tổng lượng phát thải quốc gia.

3.2. Nguy cơ cộng dồn chi phí tuân thủ giữa thuế carbon và thuế bảo vệ môi trường

Để kiểm soát lộ trình phát thải một cách thực chất nhằm đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của CBAM, nhiều đề xuất chính sách hiện nay khuyến nghị bổ sung một sắc thuế carbon trực tiếp với mức khởi điểm từ 10-20 USD/tấn CO2e/năm. Tuy nhiên, từ góc độ pháp lý, thuế bảo vệ môi trường và thuế carbon (dự kiến) có đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế và thời điểm phát sinh nghĩa vụ khác nhau. Thuế bảo vệ môi trường thu trên khối lượng nhiên liệu vật lý đầu vào, trong khi thuế carbon đánh trên lượng khí nhà kính phát thải ở đầu ra. Do đó, việc áp dụng song song hai công cụ này không cấu thành hành vi vi phạm nguyên tắc pháp lý về đánh thuế trùng.

Dù không có xung đột pháp lý, nhưng về mặt kinh tế, sự tồn tại song song này tạo ra nguy cơ cộng dồn chi phí tuân thủ trong chuỗi cung ứng. Hiện nay, toàn bộ chuỗi cung ứng sử dụng than đá và xăng dầu đã và đang phải trả khoản thuế bảo vệ môi trường được cấu thành trong giá mua. Nếu cơ quan quản lý tiếp tục áp đặt một đạo luật thuế carbon trực tiếp lên chính các doanh nghiệp công nghiệp tiêu thụ lượng nhiên liệu này mà không thiết kế một cơ chế khấu trừ minh bạch, hệ quả tài chính sẽ bị phân hóa mạnh mẽ theo từng nhóm ngành.

Thứ nhất, đối với nhóm ngành vận tải và logistics sử dụng xăng dầu, gánh nặng tài chính kép (cộng dồn mức giá ẩn 35 USD/tấn CO2e hiện tại với mức thuế carbon danh nghĩa dự kiến 10-20 USD/tấn CO2e) sẽ đẩy chi phí vận hành lên mức rất cao. Thông qua cơ chế dịch chuyển nghĩa vụ thuế gián thu, chi phí này sẽ tạo áp lực truyền dẫn lên chỉ số giá tiêu dùng.

Thứ hai, đối với khối công nghiệp chế biến, chế tạo sử dụng than đá, dù chi phí cộng dồn không lớn do mức Thuế bảo vệ môi trường đầu vào rất thấp (dưới 0,5 USD/tấn CO2e), việc cơ quan nhà nước thu hai lần tiền thuế môi trường trên cùng một hành vi đốt nhiên liệu vẫn đi ngược lại nguyên tắc công bằng thuế.

Do đó, việc đánh giá tác động chi phí không thể dùng một mức giá quy đổi chung cho toàn nền kinh tế, mà phải căn cứ vào đặc thù của từng loại nhiên liệu. Tuy nhiên, dù ở mức độ tác động nào, sự cần thiết phải thiết kế một cơ chế quyết toán liên thông (khấu trừ khoản thuế đầu vào) là điều kiện bắt buộc để kiểm soát rủi ro chi phí đẩy, đảm bảo lộ trình chuyển đổi công bằng và duy trì sức cạnh tranh của các ngành sản xuất huyết mạch.

3.3. Sự đan xen nghĩa vụ tuân thủ và rào cản chia sẻ dữ liệu với hệ thống ETS

Bên cạnh nguy cơ cộng dồn chi phí với hệ thống thuế hiện hành, thuế carbon còn đứng trước thách thức đan xen nghĩa vụ tuân thủ với hệ thống ETS - một công cụ dựa trên nguyên tắc thị trường. Dựa trên nền tảng của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, hành lang pháp lý cho ETS tại Việt Nam đã được củng cố thông qua Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và đang bước vào thực tiễn thông qua lộ trình vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon nội địa theo Nghị định số 29/2026/NĐ-CP. Theo đó, thị trường carbon nội địa hiện đang hướng trực diện vào các lĩnh vực phát thải khổng lồ như nhiệt điện, thép và xi măng. Trong bối cảnh thực tiễn này, căn cứ trên danh mục cập nhật các cơ sở phát thải phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính do Thủ tướng Chính phủ ban hành[9], cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện phân bổ hạn ngạch phát thải cho các cơ sở xả thải lớn nhất, đồng thời cho phép cơ chế bù trừ và trao đổi tín chỉ trên thị trường làm tiền đề tiến tới vận hành chính thức trên toàn quốc từ năm 2029.

Hệ thống ETS là một công cụ điều tiết theo số lượng (cap-and-trade) được đặt dưới sự quản lý chuyên môn của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nếu một dự thảo luật về thuế carbon được thông qua trong tương lai, trao quyền cho cơ quan quản lý thuế thực thi cơ chế điều tiết bằng giá trị tiền tệ tính trên khối lượng khí nhà kính phát thải, một rủi ro về tuân thủ kép sẽ phát sinh. Cụ thể, một nhà máy nhiệt điện thuộc đối tượng của hệ thống ETS sẽ đối mặt với áp lực đồng thời từ hai công cụ quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cần phân định rõ tư cách pháp lý của một cơ sở thuộc hệ thống ETS không đồng nhất với việc cơ sở đó phải gánh chịu chi phí tuân thủ ETS cho toàn bộ lượng phát thải. Áp lực tài chính thực tế của doanh nghiệp trong ETS chỉ phát sinh đối với phần phát thải vượt mức định mức hạn ngạch được cấp miễn phí, buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ bù đắp thông qua các phương thức đa dạng: mua thêm hạn ngạch đấu giá, mua trên thị trường thứ cấp, sử dụng tín chỉ carbon hợp lệ hoặc sử dụng hạn ngạch tích lũy từ các chu kỳ trước. Nếu cơ quan thuế ấn định thuế carbon trên chính tổng khối lượng khí thải nhà kính đã được báo cáo mà không có cơ chế bóc tách các hình thức tuân thủ và tài sản carbon tích lũy này, doanh nghiệp sẽ bị trừng phạt tài chính hai lần.

Sự đan xen này không chỉ tạo ra gánh nặng tài chính mà còn dẫn đến rủi ro chồng chéo về quản trị dữ liệu và thủ tục hành chính. Bài viết không giả định rằng một đạo luật thuế carbon tương lai sẽ thiết lập một quy trình kiểm kê và báo cáo phát thải độc lập, bởi điều này sẽ vi phạm nguyên tắc cải cách thủ tục hành chính. Thay vào đó, thách thức cốt lõi nằm ở rào cản pháp lý khi cơ quan thuế không thể tự động kế thừa và sử dụng trực tiếp cơ sở dữ liệu MRV (Đo đạc, Báo cáo, Thẩm định) do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý làm căn cứ tính thuế. Nếu không thiết lập cơ chế liên thông dữ liệu và công nhận thẩm quyền chốt số liệu duy nhất của cơ quan quản lý môi trường, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình thế bất lợi khi phải chứng minh, giải trình lại các số liệu phát thải, số lượng hạn ngạch tích lũy và chứng từ tín chỉ trước cơ quan thuế trong các kỳ quyết toán thuế. Do đó, việc xây dựng một hạ tầng dữ liệu số hóa thống nhất giữa hệ thống đăng ký của Bộ Tài nguyên và Môi trường và hệ thống kê khai của ngành Thuế là điều kiện tiên quyết để định giá carbon phát huy vai trò động lực thúc đẩy kinh tế chuyển đổi, thay vì trở thành rào cản hành chính cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.4. Vai trò và giới hạn của danh mục phân loại xanh quốc gia trong việc định vị đối tượng thụ hưởng cơ chế phân bổ nguồn thu hỗ trợ chuyển đổi

Để giải quyết tác động phân phối nhằm hạn chế tác động lũy thoái của thuế carbon, nhà nước buộc phải thiết kế các kênh phân bổ nguồn thu như giảm trừ nghĩa vụ thuế khác, cấp bù bảo hiểm xã hội, hoặc trợ cấp công nghệ... Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, rào cản kỹ thuật lớn nhất trong việc thực thi cơ chế này là nguy cơ tẩy xanh (greenwashing) và sự phân bổ sai lệch nguồn ngân sách. Sự bất cân xứng thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp có thể dẫn đến việc các khoản trợ cấp, ưu đãi từ dư địa tài chính do nguồn thu từ thuế carbon được tạo ra bị lạm dụng, đi vào các dự án chỉ mang nhãn mác bảo vệ môi trường nhưng thực chất không đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải thực. Sự phân bổ sai lệch này không chỉ gây thất thoát ngân sách mà còn phá vỡ hoàn toàn tính chính danh của sắc thuế.

Trong nỗ lực hoàn thiện thể chế tài chính khí hậu, khung pháp lý của Việt Nam đã có một bước tiến nền tảng thông qua việc ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, chính thức thiết lập Danh mục phân loại xanh quốc gia (Green Taxonomy). Văn bản này cung cấp một hệ quy chiếu pháp lý với các tiêu chí sàng lọc kỹ thuật và quy trình xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Sự ra đời của Quyết định 21/2025/QĐ-TTg cung cấp một màng lọc kỹ thuật quan trọng đối với luồng ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ. Bằng việc ràng buộc điều kiện nhận tài trợ từ nguồn thu thuế carbon với các tiêu chí của Danh mục, cơ quan quản lý có thể phân định rõ giữa các dự án giảm phát thải thực chất và các hoạt động kinh doanh thông thường.

Tuy nhiên, dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, cần nhận thức rõ những giới hạn của Danh mục phân loại xanh. Thứ nhất, Danh mục này chỉ đóng vai trò hỗ trợ sàng lọc dự án đầu tư, không thể được sử dụng làm tiêu chí để xác định mọi đối tượng thụ hưởng của chính sách (ví dụ: không thể dùng để định vị các nhóm hộ gia đình dễ bị tổn thương cần hỗ trợ an sinh). Thứ hai, Danh mục không tự động ngăn chặn được hiện tượng tẩy xanh. Để cơ chế luân chuyển dòng tiền hoạt động minh bạch, việc áp dụng Danh mục phải được tích hợp chặt chẽ với các quy định về xác minh độc lập, công bố thông tin, giám sát quá trình vận hành sau hỗ trợ và chế tài thu hồi đối với các dự án không duy trì được tiêu chuẩn xanh.

4. Kinh nghiệm quốc tế: Cơ chế chống cộng dồn chi phí định giá carbon và mô hình phân bổ nguồn thu

Để rút ra các hàm ý lập pháp phù hợp, bài viết áp dụn phương pháp so sánh chức năng đối với hai quốc gia đại diện cho hai khâu quản lý thuế: đầu vào (nghĩa vụ tài chính) và đầu ra (phân bổ nguồn thu). Bảng tiêu chí đối chiếu được xác lập tập trung vào hai biến số: i) mức độ đan xen giữa thuế và các công cụ định giá carbon khác; ii) giới hạn pháp lý trong việc định hướng dòng tiền ngoài ngân sách thường xuyên. Việc lựa chọn Colombia và Singapore không nhằm đối chiếu hai quốc gia này với nhau mà để đo lường khả năng cấy ghép từng quy phạm đặc thù vào hệ thống của Việt Nam. Colombia cung cấp bài học về kỹ thuật giảm trừ nghĩa vụ tại thời điểm phát sinh (phù hợp để Việt Nam xử lý nguy cơ cộng dồn chi phí khi vận hành ETS), trong khi Singapore cung cấp kỹ thuật phân bổ dư địa tài chính qua dự toán hằng năm (phù hợp để Việt Nam vượt qua rào cản không cho phép thiết lập quỹ tài chính ngoài ngân sách có tính chất gắn chặt với một nguồn thu cụ thể).

4.1. Colombia: Kỹ thuật giảm thiểu gánh nặng kép thông qua cơ chế “không cấu thành nghĩa vụ thuế” (No causación)

Trong lý thuyết kinh tế pháp lý, việc áp dụng đồng thời cả thuế carbon và các công cụ thị trường (như tín chỉ carbon hoặc hệ thống ETS) dễ tạo ra gánh nặng tài chính kép (cộng dồn chi phí). Doanh nghiệp một mặt bị cơ quan thuế tính phí trên mỗi tấn khí nhà kính thải ra, mặt khác lại phải gánh chịu chi phí đầu tư mua tín chỉ hoặc hạn ngạch trên thị trường tự do. Để xử lý triệt để xung đột này, pháp luật Colombia đã kiến tạo một kỹ thuật lập pháp hiệu quả được gọi là cơ chế “không cấu thành nghĩa vụ thuế” (No causación) được thiết lập từ sắc thuế carbon gốc năm 2016 và liên tục được hoàn thiện qua các đợt cải cách thuế năm 2021 và 2022. Đây được xem là mô hình hợp lý về kỹ thuật giảm thiểu gánh nặng kép trong quản lý thuế môi trường[10].

Về mặt bản chất pháp lý, cơ chế này không phải là một quy định miễn thuế hay giảm thuế thông thường mà là một sự loại trừ nghĩa vụ ngay từ thời điểm phát sinh. Theo quy định hiện hành tại Khoản 1 (Parágrafo 1) Điều 221 của Luật số 1819 năm 2016 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 47 Luật số 2277 năm 2022)[11], thuế carbon của Colombia đánh vào hàm lượng carbon của nhiên liệu hóa thạch; tuy nhiên, pháp luật cho phép cơ chế No causación được kích hoạt nếu người nộp thuế xuất trình được chứng nhận trung hòa carbon thông qua việc hủy bỏ tín chỉ tương đương. Đáng chú ý, từ đợt cải cách năm 2022, Colombia quy định mức loại trừ nghĩa vụ thuế thông qua tín chỉ không được vượt quá 50% tổng số thuế phát sinh nhằm bảo vệ nguồn thu ngân sách.

Trình tự pháp lý để kích hoạt sự loại trừ này được thiết lập chặt chẽ thông qua Nghị định 926 năm 2017[12]. Cụ thể, Điều 1.5.1.5.2 của Nghị định khung về thuế (được bổ sung bởi Điều 1 Nghị định 926) cho phép đối trừ trực tiếp nghĩa vụ tài chính bằng tín chỉ carbon hợp lệ. Bằng cách thiết lập cơ chế đối trừ trực tiếp nghĩa vụ pháp lý, nhà làm luật Colombia đã giải quyết được mâu thuẫn giữa chi phí tuân thủ mệnh lệnh hành chính (thuế) và nỗ lực tự nguyện trên thị trường (tín chỉ). Cần làm rõ, doanh nghiệp đầu tư mua tín chỉ carbon không phải là gánh chịu chi phí thứ hai của cùng một nghĩa vụ, mà đó là phương thức tuân thủ thay thế: họ chủ động chọn trả chi phí trên thị trường tín chỉ (thường có giá cạnh tranh hơn) để triệt tiêu gánh nặng thuế carbon gốc.

Để đảm bảo cơ chế này không bị lợi dụng để trốn thuế hoặc gây ra hiện tượng tính trùng, pháp luật Colombia đã có những bước điều chỉnh mang tính chiến lược trong giai đoạn 2021–2022 thông qua Luật Hành động vì Khí hậu (Ley 2169 de 2021) và Luật Cải cách Thuế số 2277 (Ley 2277 de 2022)[13]. Chính phủ Colombia đã thiết lập Hệ thống Đăng ký Quốc gia về Giảm phát thải Khí nhà kính (RENARE - Registro Nacional de Reducción de las Emisiones de Gases de Efecto Invernadero). Theo quy định tại Điều 1.5.1.5.4, các dự án tạo tín chỉ phải tuân thủ tiêu chuẩn thẩm định độc lập khắt khe. Đặc biệt, tại Điều 1.5.1.5.7, pháp luật bắt buộc người nộp thuế phải xuất trình chứng nhận hủy bỏ tự nguyện đối với số tín chỉ đã sử dụng trên hệ thống RENARE. Điều này tạo ra một rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt: doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng tín chỉ để triệt tiêu nghĩa vụ thuế khi họ chứng minh được hiệu quả giảm phát thải thực tế thông qua hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) cấp quốc gia, thay vì sử dụng các tín chỉ chất lượng thấp hoặc không rõ nguồn gốc.

Đối với Việt Nam, mô hình này gợi mở một kỹ thuật lập pháp hiệu quả: thiết kế cơ chế khấu trừ khối lượng phát thải tương ứng với chứng từ tín chỉ/hạn ngạch hợp lệ ngay trong công thức tính thuế để tránh tình trạng doanh nghiệp bị thu tiền hai lần cho cùng một hành vi xả thải. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng kinh nghiệm gốc của Colombia chỉ giới hạn ở việc sử dụng tín chỉ carbon tự nguyện để đối trừ thuế áp trên nhiên liệu. Việc bài viết đề xuất sử dụng nguyên lý này để trừ lùi cả hạn ngạch tuân thủ trong hệ thống ETS là một sự kế thừa và mở rộng phạm vi ứng dụng (adaptation) nhằm phù hợp với lộ trình vận hành thị trường carbon nội địa đặc thù tại Việt Nam, chứ không phải là bản sao trực tiếp từ pháp luật Colombia.

4.2 Singapore: Cơ chế phân bổ nguồn thu và nghệ thuật phân bổ ngân sách

Nếu cơ chế của Colombia giải quyết áp lực ở đầu vào (nghĩa vụ tài chính) thì mô hình của Singapore cung cấp một hệ quy chiếu quan trọng về quản trị đầu ra (dòng tiền) nhằm duy trì sự đồng thuận xã hội và tính bền vững của chính sách. Điều này được thực hiện thông qua nguyên tắc phân bổ lại nguồn thu - một triết lý bảo đảm rằng thuế carbon không phải là công cụ để gia tăng quy mô ngân sách nhà nước mà là đòn bẩy tài chính để thúc đẩy chuyển đổi xanh[14].

Một điểm đặc thù trong mô hình của Singapore là sự phân định rõ ràng các tầng bậc pháp lý từ Hiến pháp đến các chương trình hành chính để thực thi nguyên tắc quản lý ngân sách tập trung. Ở tầng bậc cao nhất, theo Điều 145 Hiến pháp Singapore (Constitution of the Republic of Singapore), toàn bộ nguồn thu từ thuế và phí bắt buộc phải được hạch toán vào Quỹ hợp nhất (Consolidated Fund)[15]. Tuân thủ rào cản hiến định này, ở cấp độ đạo luật chuyên ngành, Đạo luật Giá Carbon năm 2018 (Carbon Pricing Act 2018 - CPA) không thiết lập bất kỳ điều khoản xác định mục đích cứng nhắc nào để trích lập số tiền thuế carbon thu được thành một quỹ ngoài ngân sách hay gán cứng (earmarking) nguồn thu cho một mục đích chi cụ thể. Thay vào đó, Chính phủ sử dụng công cụ đạo luật ngân sách thường niên (Đạo luật Cung ứng) để cam kết phân bổ chi ngân sách tương ứng với dư địa tài chính mà định giá carbon tạo ra. Dòng tiền từ Quỹ hợp nhất sau đó được phân bổ ngược trở lại nền kinh tế thông qua hai luồng chi chính:

Một là, tài trợ trực tiếp thông qua chương trình Quỹ hiệu quả năng lượng (Energy Efficiency Fund – E2F): Chính phủ của Singapore chuyển giao một phần ngân sách cho Cơ quan Môi trường Quốc gia của Singapore để vận hành Quỹ này[16]Doanh nghiệp thuộc diện nộp thuế carbon có quyền nộp hồ sơ xin tài trợ để nâng cấp máy móc, thay thế công nghệ cũ. Cơ chế này góp phần giải tỏa áp lực chi phí tuân thủ cho khu vực sản xuất.

Hai là, sử dụng chương trình cấn trừ an sinh để hóa giải tính lũy thoái (U-Save): Nhận thức được định giá carbon sẽ đẩy chi phí năng lượng thiết yếu (điện, nước) tăng cao, Chính phủ Singapore tận dụng mạng lưới an sinh xã hội hiện hữu là chương trình U-Save (nằm trong Kế hoạch GST Voucher)[17]. Nguồn thu từ thuế không chuyển trực tiếp vào U-Save, mà thông qua Quỹ hợp nhất, Chính phủ cấp thêm dự toán ngân sách để mở rộng quy mô chương trình này. Bằng việc tăng định mức cấn trừ trực tiếp vào hóa đơn tiện ích cho các hộ gia đình thu nhập thấp, nhà nước đã gián tiếp bù đắp một phần chi phí sinh hoạt gia tăng do hệ quả từ việc chuyển dịch nghĩa vụ thuế.

Từ kinh nghiệm của Singapore, Việt Nam có thể rút ra một bài học quan trọng về sự tương thích với Luật Ngân sách Nhà nước. Thay vì cố gắng sửa luật để lập các quỹ ngoài ngân sách (vốn thường gặp rào cản về tính minh bạch và quản lý), Việt Nam có thể vận hành thuế carbon bằng cách đưa nguồn thu vào ngân sách trung ương nhưng đồng thời Quốc hội sẽ phê duyệt các gói “Chương trình mục tiêu quốc gia về chuyển đổi xanh” trong dự toán ngân sách hàng năm. Việc tách biệt giữa tín hiệu giá (phải giữ cao để thúc đẩy giảm phát thải) và hỗ trợ tài chính (phân bổ lại để bảo vệ doanh nghiệp và người dân) là thủ thuật trong lập pháp giúp sắc thuế carbon được chấp nhận rộng rãi.

5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam: Xây dựng cơ chế định giá carbon hỗn hợp và phân bổ nguồn thu hỗ trợ chuyển đổi

Để đảm bảo mục tiêu kép: vừa thực hiện các cam kết giảm phát thải quốc tế (Net-Zero vào năm 2050), vừa bảo vệ sức cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp và đảm bảo an sinh xã hội, hệ thống pháp luật Việt Nam cần được thiết kế theo hướng kết hợp giữa cơ chế chống chồng lấn chi phí định giá carbon ở đầu vào và cơ chế phân bổ nguồn thu ở đầu ra.

5.1. Việt Nam cần xây dựng quy định theo hướng tránh cộng dồn chi phí định giá carbon thông qua công thức thuế carbon tích hợp

Việc lựa chọn mô hình lập pháp để tích hợp thuế carbon cần được cân nhắc kỹ lưỡng thông qua việc đánh giá các phương án thay thế. Phương án ban hành một Luật Thuế Carbon độc lập có ưu điểm về sự minh bạch nhưng lại đối mặt với rào cản lớn về tính khả thi chính trị và sự đồng thuận xã hội trong bối cảnh nền kinh tế đang phục hồi. Việc áp đặt một đạo luật hoàn toàn mới dễ tạo ra hiệu ứng tâm lý tiêu cực đối với môi trường thu hút đầu tư. Thay vào đó, phương án tối ưu hơn là tận dụng dư địa lập pháp của Luật Thuế Bảo vệ môi trường năm 2010. Việc sửa đổi, bổ sung đạo luật này để lồng ghép cơ chế định giá carbon không chỉ mang tính kế thừa mà còn kiến tạo một hệ thống thuế hai cấu phần linh hoạt, giải quyết được bài toán hài hòa lợi ích giữa trung ương và địa phương:

Một là, cấu phần thuế gián thu tuyệt đối (cố định). Tiếp tục duy trì cách tính thuế tuyệt đối trên đơn vị khối lượng vật lý (lít xăng, tấn than) ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu. Khoản thu ổn định này sẽ tiếp tục được điều tiết về ngân sách địa phương để giải quyết các vấn đề môi trường tại chỗ.

Hai là, cấu phần thuế carbon trực tiếp (biến đổi). Thiết kế bổ sung cấu phần đánh thuế trên hàm lượng carbon tương đương và khối lượng khí thải nhà kính thực tế sinh ra ở khâu tiêu dùng cuối cùng. Khoản thu này linh hoạt theo hiệu quả giảm phát thải của doanh nghiệp và được điều tiết về ngân sách trung ương nhằm phục vụ luồng chi phân bổ hỗ trợ chuyển đổi quy mô quốc gia.

Dựa trên cơ sở lý thuyết của mô hình định giá carbon hỗn hợp nhằm tránh cộng dồn chi phí định giá carbon đối với các quốc gia vận hành song song cả công cụ thuế và hệ thống ETS, cơ quan lập pháp phải luật hóa một cơ chế khấu trừ tài chính liên thông. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết về mặt hiến định là toàn bộ các yếu tố cấu thành nghĩa vụ thuế (bao gồm thuế suất và công thức tính thuế) bắt buộc phải được quy định cụ thể trong văn bản Luật do Quốc hội ban hành, tuyệt đối không được giao cho Chính phủ hay Bộ Tài chính quy định chi tiết tại Nghị định hay Thông tư.

Về mặt kỹ thuật, để xử lý rủi ro nguy cơ cộng dồn chi phí từ Thuế Bảo vệ môi trường hiện hành và loại trừ sự chồng chéo phạm vi điều tiết với hệ thống ETS, Luật Thuế Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) cần thiết lập công thức quyết toán thuế carbon tích hợp dựa trên nguyên tắc loại trừ phạm vi thay vì khấu trừ chi phí tài chính đơn thuần, cụ thể kèm theo quy tắc chặn dưới và điều kiện biên như sau:

T = max (0, [R c x (E total - E ets_compliance – E credit_eligible)] - T bvmt­_fossil)

Điều kiện ràng buộc bắt buộc: E ets_compliance + E credit_eligible ≤ E total

Trong đó:

Quy tắc hàm max(0,...) đảm bảo số thuế phải nộp không bao giờ là một số âm. Nếu Tbvmt lớn hơn cấu phần thuế carbon, nghĩa vụ nộp thuế bằng 0 và không áp dụng cơ chế hoàn thuế hay kết chuyển sang kỳ sau, nhằm bảo vệ tính ổn định của ngân sách.

· T: Tổng số thuế carbon mà cơ sở công nghiệp có nghĩa vụ phải nộp cho cơ quan thuế trong kỳ tính thuế.

· R c: Thuế suất carbon cố định do Nhà nước ấn định tính trên mỗi tấn CO2e. Mức thuế suất này cần được xác định dựa trên một báo cáo đánh giá tác động kinh tế - xã hội toàn diện đối với từng ngành, có thể tham khảo mức khởi điểm thận trọng từ 10–20 USD/tấn CO2e.

· E total: Tổng lượng phát thải khí nhà kính thực tế phát sinh của cơ sở trong kỳ, đã được kiểm toán và xác thực bởi hệ thống Giám sát - Báo cáo - Thẩm định (MRV) cấp quốc gia.

· E ets_compliance: Tổng khối lượng phát thải đã hoàn thành nghĩa vụ tuân thủ trong hệ thống ETS (bao gồm cả hạn ngạch được cấp miễn phí, hạn ngạch mua qua đấu giá và hạn ngạch mua trên thị trường thứ cấp). Việc đưa toàn bộ lượng phát thải thuộc phạm vi tuân thủ ETS vào trừ lùi nhằm phản ánh đúng nguyên tắc phân định phạm vi quản lý (không đánh thuế lên phần phát thải đã bị áp trần ETS), đồng thời ghi nhận đúng chi phí cơ hội của hạn ngạch miễn phí mà doanh nghiệp đang nắm giữ.

· E credit_eligible: Khối lượng phát thải được triệt tiêu thông qua tín chỉ carbon tự nguyện đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Để được khấu trừ, các tín chỉ này bị ràng buộc bởi tiêu chí khắt khe về tính bổ sung, tính vĩnh viễn, sự phù hợp về niên vụ, minh bạch nguồn gốc và phải đi kèm cơ chế thu hồi nếu dự án tạo tín chỉ bị vỡ cam kết.

· T bvmt_fossil: Tổng số tiền Thuế Bảo vệ môi trường (cấu phần cố định) mà cơ sở công nghiệp thực tế đã nộp ở khâu đầu vào đối với nhiên liệu hóa thạch sơ cấp dùng làm chất đốt. Cơ sở chứng minh khoản thuế này không dựa trên hóa đơn điện (do điện không thuộc đối tượng chịu Thuế Bảo vệ môi trường) hay nhiên liệu dùng làm nguyên liệu hóa chất mà bắt buộc phải căn cứ vào tờ khai hải quan nhập khẩu hoặc hóa đơn mua hàng trực tiếp từ đơn vị khai thác có bóc tách riêng số thuế, qua đó loại bỏ sai số từ tồn kho hay nhiều tầng phân phối trung gian.

Công thức toán học nêu trên không chỉ đơn thuần là một phép tính định lượng mà thực chất là sự thể chế hóa các nguyên tắc kinh tế - luật nhằm giải quyết đồng thời ba bài toán pháp lý cốt lõi trong chính sách tài chính khí hậu:

Thứ nhất, phản ánh đúng bản chất chi phí và phạm vi ETS. Việc trừ lùi toàn bộ Eets_compliance theo số lượng vật lý đã giải quyết triệt để rủi ro lệch pha về giá (ví dụ: mua hạn ngạch 5 USD nhưng được loại nghĩa vụ thuế 20 USD). Về bản chất pháp lý, đây là cơ chế miễn thuế theo phạm vi ETS chứ không phải khấu trừ bù trừ chi phí, qua đó bảo vệ giá trị của hạn ngạch miễn phí và tính thanh khoản của thị trường thứ cấp.

Thứ hai, dùng chốt chặn an toàn đối với tín chỉ và ngăn chặn khấu trừ vượt mức. Việc bổ sung bất đẳng thức bắt buộc Eets_compliance + Ecredit_eligible ≤ Etotal bảo đảm doanh nghiệp không thể gom mua tín chỉ và hạn ngạch vượt quá tổng lượng xả thải thực tế để tạo ra nghĩa vụ thuế âm. Kết hợp với việc quy định chặt chẽ các thuộc tính cho biến Ecredit_eligible, cơ quan thuế đã thiết lập được một màng lọc chống lại các nỗ lực tẩy xanh bằng chứng chỉ kém chất lượng.

Thứ ba, tính khả thi của biến số Thuế Bảo vệ môi trường và giải mã nghịch lý giá. Bằng việc giới hạn căn cứ khấu trừ chỉ ở nhiên liệu sơ cấp có hóa đơn bóc tách rõ Tbvmt_fossil, sự phức tạp từ tồn kho và pha trộn nhiên liệu được xử lý triệt để. Đặc biệt, công thức đã vô hiệu hóa nghịch lý cho rằng mức giá carbon ẩn 35 USD/tấn sẽ triệt tiêu hoàn toàn thuế suất 10-20 USD/tấn. Cần làm rõ rằng, mức giá ẩn 35 USD/tấn chủ yếu hình thành từ xăng dầu - vốn tác động mạnh đến nhóm ngành vận tải. Trong khi đó, các cơ sở thâm dụng carbon khổng lồ thuộc đối tượng điều tiết (như nhiệt điện, xi măng, thép) lại chủ yếu tiêu thụ than đá. Mức Thuế bảo vệ môi trường đối với than đá hiện hành rất thấp (chỉ từ 15.000 – 30.000 đồng/tấn, quy đổi chưa tới 1 USD/tấn CO2e). Do đó, đối với khối công nghiệp nặng này, phép tính Tbvmt_fossil rất nhỏ, đảm bảo cấu phần thuế carbon Rc (10-20 USD) sẽ không bao giờ bị kéo về 0, giữ nguyên vẹn áp lực tài chính thúc đẩy chuyển đổi công nghệ.

5.2. Quy trình ngân sách và cơ chế phân bổ nguồn thu hỗ trợ chuyển đổi

Việc thiết lập một cơ chế phân bổ nguồn thu đặc thù đối với thuế carbon tại Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025. Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 8 của Ngân sách Nhà nước năm 2025[18], mọi khoản thu từ thuế phải được tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước và không được gắn chặt khoản thu đó cho một mục đích chi cụ thể nào trước khi Quốc hội phê duyệt dự toán. Do đó, việc thành lập một quỹ tài chính ngoài ngân sách (như Quỹ bảo vệ môi trường hoạt động độc lập lấy trực tiếp tỷ lệ nguồn thu từ thuế carbon) sẽ xung đột với nguyên tắc quản lý tài chính công tập trung.

Kế thừa kinh nghiệm quản trị ngân sách tập trung của Singapore, Quốc hội Việt Nam sẽ sử dụng quyền lực phân bổ thông qua các Nghị quyết dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Quy trình này do Bộ Tài chính chủ trì tổng hợp, trình Quốc hội phê duyệt. Thay vì sử dụng thuật ngữ Chương trình mục tiêu quốc gia (vốn đòi hỏi quy trình phê duyệt chủ trương đầu tư rất phức tạp và độc lập theo Luật Đầu tư công) hay phân bổ qua các quỹ ngoài ngân sách, nguồn lực hỗ trợ này cần được định danh chuẩn xác pháp lý là các khoản “nhiệm vụ chi đầu tư phát triển” và “nhiệm vụ chi thường xuyên” vì sự nghiệp bảo vệ môi trường thuộc ngân sách trung ương. Cơ chế phân bổ cần được thiết kế thành hai luồng chi ngân sách độc lập với sự phân quyền rõ ràng cho các cơ quan quản lý chuyên trách, kèm theo các tiêu chí xác định quy mô, thủ tục kiểm toán và trách nhiệm giải trình:

Thứ nhất, luồng chi hỗ trợ doanh nghiệp thông qua dự toán chi đầu tư/hỗ trợ công nghệ. Nguồn lực từ ngân sách trung ương sẽ được phân bổ như một khoản trợ cấp một lần hoặc hỗ trợ lãi suất tín dụng thông qua Bộ Tài chính. Ở luồng chi này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đóng vai trò là cơ quan xét duyệt chuyên môn, đối chiếu nghiêm ngặt với màng lọc kỹ thuật pháp lý là Danh mục phân loại xanh quốc gia. Pháp luật cần quy định chỉ những dự án đầu tư đáp ứng chuẩn xác các tiêu chí kỹ thuật tại Danh mục này mới đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn. Đồng thời, quy trình hỗ trợ phải thiết lập cơ chế hậu kiểm nghiêm ngặt: yêu cầu Kiểm toán Nhà nước định kỳ kiểm tra, công khai minh bạch danh sách doanh nghiệp thụ hưởng và quy định chế tài thu hồi toàn bộ nguồn vốn đã cấp (kèm tiền lãi chậm nộp) nếu doanh nghiệp khiếu nại sai hoặc vi phạm cam kết giảm phát thải trong quá trình vận hành dự án.

Thứ hai, luồng chi hỗ trợ an sinh xã hội cho hộ gia đình. Việc bảo vệ các đối tượng dễ bị tổn thương không sử dụng Danh mục phân loại xanh làm tiêu chí. Thay vào đó, ngân sách tận dụng các mạng lưới an sinh hiện hữu, tiêu biểu như cơ chế hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo theo Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg[19]. Nhà nước giữ nguyên tín hiệu giá trên thị trường năng lượng nhưng tăng định mức cấn trừ trực tiếp vào hóa đơn tiện ích cho các nhóm yếu thế. Cụ thể, có thể tích hợp nguồn lực từ thuế carbon để mở rộng dư địa ngân sách cho các chính sách an sinh hiện hành, điển hình như cơ chế hỗ trợ tiền điện theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg. Theo đó, phạm vi đối tượng thụ hưởng được phân định rõ bao gồm: i) hộ nghèo (được hỗ trợ cho mục đích sinh hoạt) và ii) hộ chính sách xã hội không thuộc diện hộ nghèo nhưng có lượng điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong tháng không quá 50 kWh. Mức hỗ trợ cấn trừ hàng tháng cho cả hai nhóm này tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 4 của Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg, nguồn kinh phí này được bố trí trực tiếp từ ngân sách nhà nước, trong đó ngân sách trung ương cấp bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương. Việc tích hợp nguồn thu từ thuế carbon vào ngân sách trung ương sẽ tạo dư địa tài chính để Chính phủ xem xét mở rộng phạm vi hộ thụ hưởng hoặc nâng định mức hỗ trợ (ví dụ: nâng mức hỗ trợ lên tương đương 50 kWh) nhằm bù đắp trực tiếp cho phần chi phí sinh hoạt gia tăng do hệ quả từ định giá carbon.

Trong trường hợp nguồn thu thuế carbon sụt giảm do hiệu quả chuyển đổi công nghệ của nền kinh tế, các khoản chi an sinh này vẫn được đảm bảo thông qua năng lực cân đối ngân sách chung của Nhà nước. Việc chi an sinh được bảo đảm ổn định từ ngân sách chung độc lập với sự sụt giảm của nguồn thu thuế carbon chứng minh bản chất ưu việt của cơ chế phân bổ nguồn thu: đó không phải là sự lệ thuộc cứng nhắc vào quy mô số thu thuế carbon hằng năm, mà thực chất là một cam kết bảo vệ xã hội vô điều kiện từ Nhà nước nhằm đảm bảo tính công bằng trong chuyển đổi năng lượng.

Sự phân tách minh bạch giữa việc dùng Danh mục phân loại xanh để sàng lọc dự án đầu tư và dùng tiêu chí hộ nghèo/cận nghèo để bảo vệ an sinh chính là phương thức lập pháp giúp sắc thuế carbon vận hành ổn định trong thực tiễn.

6. Kết luận

Việc thiết lập một hệ thống định giá carbon hoàn chỉnh không chỉ là một bài toán kinh tế thuần thuý mà là một kiến trúc pháp lý đòi hỏi sự đồng bộ cao. Để công cụ thuế này thực sự trở thành động lực dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu Net-Zero vào năm 2050, Việt Nam cần giải quyết các rào cản kỹ thuật lập pháp, từ việc kiểm soát nguy cơ cộng dồn chi phí tuân thủ cho khu vực sản xuất đến việc thiết lập cơ chế phân bổ nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội.

Từ lăng kính so sánh luật học, bài học rút ra là việc vận dụng các kỹ thuật lập pháp cốt lõi: cơ chế không cấu thành nghĩa vụ thuế để giảm thiểu gánh nặng kép từ mô hình của Colombia và nguyên tắc luân chuyển dòng tiền qua ngân sách tập trung từ mô hình của Singapore. Việc tích hợp các kỹ thuật này thông qua một công thức thuế carbon tích hợp - nơi nghĩa vụ thuế được đối trừ trực tiếp với khối lượng hạn ngạch đấu giá, tín chỉ carbon hợp lệ và khoản Thuế bảo vệ môi trường đã nộp ở khâu đầu vào - là một hướng giải quyết hợp lý. Thiết kế này vừa bảo vệ ngân sách Nhà nước trước rủi ro xói mòn nguồn thu, vừa đảm bảo cho cộng đồng doanh nghiệp một môi trường đầu tư có tính dự báo, nơi chi phí tuân thủ được tối ưu hóa thông qua các hành động giảm phát thải thực chất.

Bên cạnh đó, để tương thích với khung khổ tài chính công hiện hành, sắc thuế carbon cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc ngân sách tập trung. Việc tận dụng thẩm quyền phân bổ dự toán ngân sách hàng năm của Quốc hội thành các luồng chi độc lập là một hướng tiếp cận pháp lý khả thi. Đặc biệt, sự gắn kết chặt chẽ giữa dòng tiền tài trợ dự án của doanh nghiệp với các tiêu chuẩn tại Danh mục phân loại xanh quốc gia sẽ đóng vai trò như một bộ lọc kỹ thuật quan trọng. Sự kết hợp này góp phần hạn chế rủi ro tẩy xanh và đảm bảo nguồn lực hỗ trợ được giải ngân đúng đối tượng nhằm thúc đẩy các nỗ lực chuyển đổi xanh thực chất.

Tóm lại, thuế carbon trong tương lai của Việt Nam cần được định vị là một công cụ đòn bẫy chuyển đổi thay vì một công cụ thuần túy để tăng thu ngân sách. Pháp luật về thuế carbon không nên bị xem là một rào cản hành chính gia tăng chi phí cho doanh nghiệp mà phải là một hệ thống đệm tài chính linh hoạt. Thông qua việc phân tách rõ ràng giữa tín hiệu giá (để thúc đẩy giảm phát thải) và luồng phân bổ hỗ trợ (để bảo vệ xã hội và tiếp sức cho doanh nghiệp), Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một hành lang pháp lý đồng bộ để hiện thực hóa cam kết khí hậu, đồng thời bảo đảm sự phát triển công bằng, bền vững cho toàn bộ nền kinh tế trong giai đoạn mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC), 2006 IPCC Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories, Vol. 2 (Energy), ch. 2, Table 2.2 (2006), https://www.ipcc-nggip.iges.or.jp/public/2006gl/vol2.html.

2. Nguyễn Văn Dương, Thuế carbon và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền - Một số gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (2024), https://danchuphapluat.vn/thue-carbon-va-nguyen-tac-nguoi-gay-o-nhiem-phai-tra-tien-mot-so-goi-mo-cho-viet-nam-3289.html.

3. Nguyễn Văn Hồng, Phan Thị Anh Thơ & Nguyễn Thị Phong Lan, Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu đối với hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Vietnam Journal of Hydrometeorology, 711(3), 66-75 (2020), https://doi.org/10.36335/VNJHM.2020(711).66-75.

4. Nguyễn Hương Ly & Nguyễn Ngọc Trân Châu, Cơ chế pháp lý định giá carbon trong bối cảnh chuyển đổi xanh – Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, (2025), https://doi.org/10.70236/khplvn.447.

5. Ministry of Finance Singapore, GSTV – U-Save and Budget 2026 U-Save, GOVBenefits Website, (truy cập ngày 21/06/2026), https://www.govbenefits.gov.sg/about-us/gst-voucher/am-i-eligible/.

6. National Climate Change Secretariat (NCCS) Singapore, Carbon Pricing Act, NCCS Website, (truy cập ngày 21/06/2026), https://www.nccs.gov.sg/singapores-climate-action/carbon-pricing/.

7. National Environment Agency (NEA) Singapore, Enhancements To The Energy Efficiency Fund (E2F) To Support Investment In Energy Efficient Technologies, NEA Website, (truy cập ngày 21/06/2026), https://www.nea.gov.sg/media/news/news/index/enhancements-to-the-energy-efficiency-fund-(e2f)-to-support-investment-in-energy-efficient-technologies.

8. Lê Minh Nhựt, Nguyễn Hồng Thao & Trần Quang Huy, Cơ chế định giá carbon kết hợp và một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 12(196), 12-20 (2025), https://doi.org/10.70236/khplvn.448.

9. THOMAS H. TIETENBERG & LYNNE LEWIS, ENVIRONMENTAL & NATURAL RESOURCE ECONOMICS, 11TH ED. (2018), https://doi.org/10.4324/9781315208343.

10. Singapore, Hiến pháp nước Cộng hòa Singapore (Constitution of the Republic of Singapore), https://sso.agc.gov.sg/Act/CONS1963.

11. Luật Ngân sách Nhà nước số 89/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025.

12. Colombia, Luật Cải cách Thuế số 1819 năm 2016 (Ley 1819 de 2016), https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=79140.

13. Colombia, Luật Hành động vì Khí hậu số 2169 năm 2021 (Ley 2169 de 2021) và Luật Cải cách Thuế số 2277 năm 2022 (Ley 2277 de 2022), https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=199883.

14. Nghị quyết số 109/2025/UBTVQH15 ngày 17 tháng 10 năm 2025 về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn.

15. Colombia, Nghị định số 926 năm 2017 (Decreto 926 de 2017), https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=81936.

16. Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2024 ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật).

17. Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2025 Quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.

18. U.S. Environmental Protection Agency (EPA), Greenhouse Gases Equivalencies Calculator - Calculations and References, https://www.epa.gov/energy/greenhouse-gases-equivalencies-calculator-calculations-and-references.

* Tiến sĩ, Khoa Luật, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

** Tiến sĩ, Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1] Nguyễn Văn Hồng, Phan Thị Anh Thơ & Nguyễn Thị Phong Lan, Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu đối với hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Vietnam Journal of Hydrometeorology, 711(3), 66, 66-75 (2020), https://doi.org/10.36335/VNJHM.2020(711).66-75

[2] Thomas H. Tietenberg & Lynne Lewis, Environmental & Natural Resource Economics, 11th Ed., 70-75 (2018), https://doi.org/10.4324/9781315208343..

[3] Nguyễn Văn Dương, Thuế carbon và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền - Một số gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10/09/2024), https://danchuphapluat.vn/thue-carbon-va-nguyen-tac-nguoi-gay-o-nhiem-phai-tra-tien-mot-so-goi-mo-cho-viet-nam-3289.html.

[4] Lê Minh Nhựt, Nguyễn Hồng Thao & Trần Quang Huy, Cơ chế định giá carbon kết hợp và một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 12(196), 12, 12-20 (2025), https://doi.org/10.70236/khplvn.448

[5] Nguyễn Hương Ly & Nguyễn Ngọc Trân Châu, Cơ chế pháp lý định giá carbon trong bối cảnh chuyển đổi xanh – Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, (30/12/2025), https://doi.org/10.70236/khplvn.447

[6] Nghị quyết số 109/2025/UBTVQH15 ngày 17 tháng 10 năm 2025 về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn, Khoản 1 Điều 1.

[7] U.S. Environmental Protection Agency (EPA), Greenhouse Gases Equivalencies Calculator - Calculations and References, https://www.epa.gov/energy/greenhouse-gases-equivalencies-calculator-calculations-and-references (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[8] Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC), 2006 IPCC Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories, Vol. 2 (Energy), ch. 2, Table 2.2 (2006), https://www.ipcc-nggip.iges.or.jp/public/2006gl/vol2.html (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[9] Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2024 ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật)

[10] Colombia, Luật Cải cách Thuế số 1819 năm 2016 (Ley 1819 de 2016), https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=79140.

[11] Colombia, Luật Hành động vì Khí hậu số 2169 năm 2021 (Ley 2169 de 2021) và Luật Cải cách Thuế số 2277 năm 2022 (Ley 2277 de 2022), https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=199883.

[12] Colombia, Nghị định 926 năm 2017 (Decreto 926 de 2017), (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=81936, (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[13] Colombia, Luật Hành động vì Khí hậu số 2169 năm 2021 (Ley 2169 de 2021) và Luật Cải cách Thuế số 2277 năm 2022 (Ley 2277 de 2022), https://www.funcionpublica.gov.co/eva/gestornormativo/norma.php?i=199883, (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[14] National Climate Change Secretariat (NCCS) Singapore, Carbon Pricing Act, NCCS Website, (truy cập ngày 21/06/2026), https://www.nccs.gov.sg/singapores-climate-action/carbon-pricing/, (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[15] Singapore, Hiến pháp nước Cộng hòa Singapore (Constitution of the Republic of Singapore), Điều 145, https://sso.agc.gov.sg/Act/CONS1963, (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[16] National Environment Agency (NEA) Singapore, Enhancements To The Energy Efficiency Fund (E2F) To Support Investment In Energy Efficient Technologies, NEA Website, (truy cập ngày 21/06/2026), https://www.nea.gov.sg/media/news/news/index/enhancements-to-the-energy-efficiency-fund-(e2f)-to-support-investment-in-energy-efficient-technologies, (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[17] Ministry of Finance Singapore, GSTV – U-Save and Budget 2026 U-Save, GOVBenefits Website, (truy cập ngày 21/06/2026), https://www.govbenefits.gov.sg/about-us/gst-voucher/am-i-eligible/, (cập nhật lần cuối tháng 8/2026).

[18] Luật Ngân sách Nhà nước số 89/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025.

[19] Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2025 Quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.