Tóm tắt: Ngày 26 tháng 10 năm 2025, Hoa Kỳ công bố hai hiệp định thương mại đối ứng đầu tiên với Malaysia và Campuchia, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong tư duy xây dựng các thỏa thuận thương mại quốc tế. Khác với mô hình hiệp định thương mại tự do truyền thống, các văn kiện này sử dụng thuế quan đối ứng như công cụ pháp lý chiến lược, nhằm thúc đẩy đồng bộ hóa chính sách, đảm bảo ổn định chuỗi cung ứng và bảo vệ an ninh kinh tế. Bài viết này phân tích hệ thống các nghĩa vụ pháp lý trong hai hiệp định trên trong tương quan so sánh với khuôn khổ pháp luật của WTO và các hiệp định thương mại tự do hiện hành. Trên cơ sở đó, bài viết gợi mở một số hướng đàm phán phù hợp cho Việt Nam trước khả năng Hoa Kỳ sẽ đưa ra yêu cầu tương tự.
Từ khóa: hiệp định thương mại đối ứng; đồng bộ chính sách; an ninh kinh tế; tự do hóa thương mại.
Abstract: On October 26, 2025, the United States announced its first two reciprocal trade agreements with Malaysia and Cambodia, marking a significant evolution in international trade agreement design. Unlike traditional free trade agreements, these agreements strategically employ reciprocal tariffs as leverage to secure policy alignment, supply chain stability, and economic security. This article analyzes the legal obligations in both agreements, comparatively assessing them against WTO law and existing free trade agreements. It proposes tailored negotiation strategies for Vietnam in anticipation of similar U.S. demands.
Keywords: reciprocal trade agreements; policy alignment; economic security; trade liberalization
I. Đặt vấn đề
Ngày 13/02/2025, Hoa Kỳ ban hành Thông cáo về thương mại đối ứng và thuế quan nhấn mạnh quan hệ thương mại thiếu tính đối ứng với các nước đối tác gây ra thâm hụt thương mại, ảnh hưởng đến an ninh kinh tế và an ninh quốc gia.[1] Theo đó, Hoa Kỳ sẽ triển khai Kế hoạch công bằng và đối ứng nhằm chủ động điều chỉnh mức thuế quan mới cho từng đối tác. Sắc lệnh Hành pháp (EO) số 14257 vào ngày 02/04/2025 là động thái rõ rệt đầu tiên hiện thực hóa kế hoạch đó.[2] Sắc lệnh này tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia do thâm hụt thương mại kéo dài đồng thời áp thuế quan cơ sở (10%) và thuế quan bổ sung theo từng quốc gia để xử lý tình trạng thương mại không đối ứng. Trước sức ép của các mức thuế đối ứng, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã tiến hành đàm phán các hiệp định thương mại đối ứng để cải thiện cơ hội tiếp cận thị trường của Hoa Kỳ.
Bài viết này sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các nghĩa vụ trong hai hiệp định thương mại đối ứng đầu tiên được công bố giữa Hoa Kỳ với Malaysia và Campuchia, đánh giá mức độ cam kết và những điểm mới so với khuôn khổ pháp luật của WTO và hiệp định thương mại tự do (FTA). Nghiên cứu đặt ra câu hỏi liệu các hiệp định thương mại đối ứng có phải một mô hình thỏa thuận mới kết hợp tự do hóa thương mại với an ninh kinh tế và đặt ra những thách thức nào cho Việt Nam trong quá trình đàm phán.
II. Tính đối ứng trong thương mại quốc tế và sự hình thành các hiệp định thương mại đối ứng của Hoa Kỳ
2.1. Sự phát triển nội hàm của tính đối ứng trong thương mại quốc tế
Đối ứng hay có đi có lại (reciprocity) từ lâu là nguyên tắc đặc trưng trong đàm phán thương mại quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng.[3] Theo đó, các quốc gia đối tác sẽ đưa ra những nhượng bộ tương đương nhằm đạt được các lợi ích chung về thương mại.[4] Tại Hoa Kỳ, từ năm 1934, dưới ảnh hưởng của Cordell Hull khi ông còn là Bộ trưởng Ngoại giao, Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật về hiệp định thương mại đối ứng để trao quyền cho Tổng thống đàm phán cắt giảm thuế quan với các nước đối tác mà không cần sự phê chuẩn của Quốc hội. Nguyên tắc đối ứng là nền tảng vận hành đằng sau Đạo luật này và được Hoa Kỳ chuyển hóa thành công vào các vòng đàm phán đa phương của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và WTO.[5] Tuy nhiên, trong khuôn khổ GATT/WTO, nguyên tắc này chỉ yêu cầu các nước cùng giảm thuế ở mức lợi ích kinh tế tăng thêm là cân bằng, mà không bắt buộc mức thuế tuyệt đối phải bằng nhau.[6]
Hơn 90 năm sau, tính đối ứng trở thành tâm điểm phê phán của Hoa Kỳ đối với chính sách thương mại của các nước đối tác, thể hiện ở: (i) mức thuế quan nhập khẩu cao áp lên hàng hóa của Hoa Kỳ; (ii) các loại thuế không công bằng, phân biệt đối xử, hoặc áp dụng ngoài lãnh thổ, trong đó có thuế giá trị gia tăng; (iii) các hàng rào phi thuế, chính sách, thông lệ không công bằng, làm gia tăng chi phí và gây gánh nặng cho doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động ở nước ngoài; (iv) chính sách tỷ giá hối đoái bất lợi cho Hoa Kỳ, hạ thấp tiền lương và các chính sách thương mại khác khiến người lao động và doanh nghiệp Hoa Kỳ giảm năng lực cạnh tranh; và (v) bất kỳ chính sách nào khác theo Hoa Kỳ là áp đặt hạn chế tiếp cận thị trường hoặc ảnh hưởng đến cạnh tranh công bằng với nền kinh tế thị trường của Hoa Kỳ.[7] Hoa Kỳ cho rằng nền kinh tế của họ có độ mở cửa với hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài cao hơn nhiều nước đối tác, thể hiện ở mức thuế quan tối huệ quốc trung bình chỉ 3.4% so với 5% của Liên minh Châu Âu (EU), 10% của Trung Quốc, hay 11.7% của Việt Nam. Các nước này được cho là sử dụng hệ thống pháp luật, quy định hành chính và tiêu chuẩn kỹ thuật như các rào cản phi thuế quan bất lợi cho Hoa Kỳ.[8] Quan điểm của Hoa Kỳ về tính đối ứng nghiêm ngặt hàm ý rằng các đối tác phải áp dụng mức thuế quan và rào cản phi thuế quan trong quan hệ song phương giống nhau,[9] nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng tuyệt đối, trái với quan điểm về tính đối ứng trong GATT/WTO.
Trên cơ sở đó, thuế đối ứng và các thỏa thuận thương mại đối ứng được Hoa Kỳ xây dựng như một công cụ đàm phán để tái cân bằng các quan hệ thương mại song phương.[10]
2.2. Sự hình thành các hiệp định thương mại đối ứng của Hoa Kỳ
Sắc lệnh số 14257 vào ngày 02/04/2025 ban hành biểu thuế quan nhập khẩu mới theo đối tác là hành động đầu tiên của Hoa Kỳ nhằm tái lập tính đối ứng trong thương mại quốc tế. Để áp dụng thuế đối ứng một cách nhanh chóng, Hoa Kỳ đã viện dẫn nhiều căn cứ pháp lý khác nhau liên quan đến thẩm quyền hành pháp của Tổng thống bao gồm Đạo luật Tình trạng khẩn cấp quốc gia năm 1976 (NEA) và Đạo luật Quyền lực kinh tế khẩn cấp quốc tế năm 1977 (IEEPA) theo hướng coi thâm hụt thương mại là tình trạng khẩn cấp quốc gia.[11]Cách tiếp cận này biến thâm hụt thương mại thành khủng hoảng kinh tế quốc gia, kích hoạt các biện pháp phòng vệ đơn phương và vượt xa cơ sở pháp lý truyền thống trong Mục 301 của Đạo luật thương mại năm 1974 hay Mục 232 của Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962, vốn yêu cầu quy trình điều tra và báo cáo nghiêm ngặt, hướng đến các sản phẩm hoặc quốc gia cụ thể hơn là toàn bộ giao dịch kinh tế quốc tế.[12] Mức thuế đối ứng mới ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ thương mại với các nước đối tác và đặt họ vào tình huống phải đàm phán lại về cơ hội tiếp cận thị trường Hoa Kỳ dưới hình thức các hiệp định song phương mới.
Ngày 26/10/2025, Hoa Kỳ ký kết và công bố hai hiệp định thương mại đối ứng đầu tiên với Malaysia và Campuchia tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 47.[13] Các hiệp định này nằm trong tổng thể Chính sách thương mại “Hoa Kỳ trước tiên” (America First Trade Policy) mà Tổng thống Donald Trump theo đuổi nhằm gia tăng năng lực xuất khẩu và giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Hoa Kỳ cho rằng các quy tắc đa phương và mô hình hiệp định thương mại tự do toàn diện trước đây không khắc phục được những mất cân đối kinh tế khiến Hoa Kỳ trở nên phụ thuộc nghiêm trọng vào nhập khẩu trong nhiều ngành sản xuất then chốt. Thuế đối ứng và các thỏa thuận thương mại đối ứng được đánh giá đã giúp giảm thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với các đối tác tính đến đầu năm 2026, tạo ra những thay đổi chính sách quan trọng từ các nước đối tác và sẽ đem lại lợi ích đồng đều cho nhiều ngành sản xuất, bao gồm cả nông nghiệp và công nghiệp của Hoa Kỳ.[14]
Hiệp định thương mại đối ứng Hoa Kỳ - Malaysia (USMART) và Hiệp định thương mại đối ứng Hoa Kỳ -Campuchia (USCART) có bố cục tương tự bao gồm ba phần chính: (i) lời mở đầu; (ii) cam kết theo lĩnh vực thương mại; và (iii) phụ lục và biểu cam kết cụ thể. Bài viết tập trung phân tích các hiệp định trên bốn lĩnh vực: (i) thương mại hàng hóa; (ii) thương mại số, dịch vụ và đầu tư; (iii) bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường; và (iv) hợp tác về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia.
III. Một số nghĩa vụ chính trong các hiệp định thương mại đối ứng giữa Hoa Kỳ với Malaysia và Campuchia
3.1. Nghĩa vụ về thương mại hàng hóa
Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, hai hiệp định đặt ra nghĩa vụ liên quan đến thuế quan, biện pháp biên giới và thuế nội địa, biện pháp hạn chế số lượng, các hàng rào kỹ thuật và quy tắc xuất xứ.[15] Những nghĩa vụ này một mặt tái khẳng định mức cam kết hiện có trong khuôn khổ WTO, mặt khác mở rộng phạm vi, đặc biệt là yêu cầu Malaysia và Campuchia đồng bộ chính sách thương mại với Hoa Kỳ, dẫn đến tiềm ẩn rủi ro về giải thích đơn phương và khả năng xung đột với pháp luật WTO.
Về thuế nhập khẩu, Hoa Kỳ cam kết áp thuế đối ứng 19% đối với hàng hóa xuất xứ từ Malaysia (giảm từ mức 49%) và Campuchia (giảm từ mức 24%) cùng với liệt kê danh mục các hàng hóa được hưởng thuế đối ứng 0%.[16] Bản chất của thuế đối ứng là khoản thuế bổ sung tính theo phần trăm trên trị giá hải quan, cộng gộp lên hàng nhập khẩu bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường và các loại thuế đặc thù khác.[17] Ở chiều ngược lại, Malaysia cam kết áp dụng biểu thuế nhập khẩu cho hàng hóa Hoa Kỳ với các mức thuế trải rộng từ 0% đến 15% tùy loại hàng, ngay khi hiệp định có hiệu lực hoặc giảm dần theo lộ trình tối đa lên tới 9 năm. Tương tự, Campuchia cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa của Hoa Kỳ về 0% ngay sau khi hiệp định có hiệu lực.[18]
Về các biện pháp biên giới khác và thuế nội địa, các hiệp định đối ứng mở rộng nghĩa vụ vượt ngoài khuôn khổ WTO. Một là, Malaysia và Campuchia cam kết tham vấn hoặc đồng bộ hóa các biện pháp biên giới với hàng hóa từ nước thứ ba tương đồng với các biện pháp mà Hoa Kỳ có thể áp dụng trong tương lai. Điều 2.12 của USMART đề cập một biện pháp cụ thể như vậy là thuế điều chỉnh biên giới (Border Adjustment Tax - BAT).[19]BAT là chính sách đánh thuế với hàng nhập và hoàn thuế với hàng xuất để duy trì cạnh tranh công bằng theo nguyên tắc đánh thuế tại nơi tiêu dùng.[20]
Hai là, Malaysia và Campuchia cam kết không khởi kiện tại WTO chính sách miễn hoặc hoàn thuế xuất khẩu của Hoa Kỳ.[21] USCART còn yêu cầu Campuchia không áp biện pháp đối kháng đơn phương với chính sách này. Như vậy, so với Malaysia, Campuchia cam kết không sử dụng cả chế tài đa phương và đơn phương, chẳng hạn thuế chống trợ cấp, để đối kháng với chính sách thuế của Hoa Kỳ kể cả khi chúng cấu thành trợ cấp gây tổn hại cho ngành sản xuất nội địa. Các nghĩa vụ này phản ánh lo ngại của Hoa Kỳ về tính hợp pháp của BAT theo pháp luật WTO, có thể vi phạm nghĩa vụ đối xử quốc gia trong GATT hoặc cấu thành trợ cấp xuất khẩu bị cấm theo Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng (SCM).[22] Trên thực tế, ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm của WTO đã từng kết luận chính sách miễn thuế của Hoa Kỳ đối với doanh thu từ xuất khẩu của các công ty bán hàng ra nước ngoài cấu thành trợ cấp bị cấm vi phạm Hiệp định SCM.[23] Mặc dù quyền khởi kiện theo Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp trong WTO là tự nguyện, cam kết không khởi kiện tại WTO làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp đa phương vì tạo ra một sự hạn chế quyền tiếp cận công lý của các thành viên. Cam kết này giúp Hoa Kỳ tránh phải tham gia các thủ tục xét xử tốn nhiều nguồn lực ở cấp độ ban hội thẩm ngay từ đầu vì nếu phán quyết bất lợi, Hoa Kỳ có thể kháng cáo lên Cơ quan phúc thẩm đã ngừng hoạt động.
Ba là, Malaysia và Campuchia không áp thuế giá trị gia tăng (VAT) mang tính phân biệt đối xử với doanh nghiệp Hoa Kỳ trong pháp luật và trong thực tiễn thi hành.[24] Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO, nghĩa vụ này không chỉ điều chỉnh các biện pháp có nội dung rõ ràng phân biệt trong văn bản pháp luật, mà cả những biện pháp trung lập về mặt nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa nhưng thực tế áp dụng gây ra sự đối xử kém thuận lợi hơn cho hàng hóa nhập khẩu.[25]
Về hạn chế số lượng, các cam kết trong hiệp định thương mại đối ứng thể hiện mức độ mở cửa thị trường đáng kể ở một số ngành hàng, đặc biệt là tài nguyên, khoáng sản thiết yếu. Ở chiều nhập khẩu, Campuchia không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng hóa xuất xứ từ Hoa Kỳ, trong khi đó Malaysia không áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng nói chung đối với hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ, trừ các biện pháp phù hợp với quy định của GATT 1994.[26] Cam kết của Malaysia rộng hơn về phạm vi biện pháp do hạn ngạch nhập khẩu chỉ là một trong các công cụ hạn chế số lượng nhưng linh hoạt hơn do dẫn chiếu tới GATT 1994 vốn chứa đựng nhiều trường hợp ngoại lệ cho việc áp dụng hạn chế số lượng.[27] Ở chiều xuất khẩu, Malaysia cam kết không cấm xuất khẩu khoáng sản thiết yếu và loại bỏ hạn ngạch xuất khẩu đất hiếm sang Hoa Kỳ.[28] Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược về nguồn cung khoáng sản thiết yếu giữa các cường quốc và các biện pháp hạn chế xuất khẩu gia tăng,[29]nhượng bộ này sẽ hạn chế khả năng điều tiết xuất khẩu để hỗ trợ công nghiệp nội địa. Từ phía Hoa Kỳ, yêu cầu này phản ánh chính sách đa dạng hóa chuỗi cung ứng các khoáng sản thiết yếu mà nước này đang xúc tiến với nhiều quốc gia thời gian gần đây.[30]
Đối với các hàng rào kỹ thuật (TBT) và kiểm dịch động, thực vật (SPS), Hoa Kỳ một mặt yêu cầu Malaysia và Campuchia duy trì các nghĩa vụ hiện có trong khuôn khổ WTO,[31] mặt khác yêu cầu công nhận các tiêu chuẩn, kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp của Hoa Kỳ mà không cần kiểm tra bổ sung. Yêu cầu Malaysia và Campuchia xóa bỏ các biện pháp “làm giảm tính đối ứng” đã mở rộng đáng kể phạm vi nghĩa vụ so với chuẩn mực WTO và các FTA vì tính đối ứng không được định nghĩa rõ ràng trong các hiệp định, dẫn tới sự không chắc chắn về tiêu chí xác định và tính chủ quan trong đánh giá từ phía Hoa Kỳ.
3.2. Nghĩa vụ về thương mại số, dịch vụ và đầu tư
Trong bối cảnh chuyển đổi số ảnh hưởng mạnh mẽ đến các giao dịch thương mại xuyên biên giới, Hoa Kỳ coi thương mại số là ưu tiên chiến lược trong các hiệp định thương mại. Thương mại số bao gồm trao đổi hàng hóa, dịch vụ đặt hàng số hoặc cung cấp số, từ giao dịch điện tử giao nhận vật lý như mua sách trực tuyến, đặt phòng qua nền tảng đến cung cấp thuần số như xem phim qua mạng.[32] Hoa Kỳ hướng đến bảo vệ lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của mình trong thương mại số xuyên biên giới thông qua yêu cầu đối tác thực thi một số nghĩa vụ như: (i) cấm đánh thuế dịch vụ số (DST) mang tính phân biệt đối xử, (ii) thuận lợi hóa thương mại số, (iii) không đánh thuế quan trên các giao dịch truyền tải điện tử, và (iv) tham vấn trước khi ký kết các hiệp định thương mại số với bên thứ ba.
Đối với thuế dịch vụ số, các cam kết trong USMART và USCART được thiết kế ở mức cao hơn các nghĩa vụ quốc tế hiện hành của Malaysia và Campuchia. Theo đó, hai nước này sẽ không “áp thuế dịch vụ số, hoặc thuế tương tự, mang tính phân biệt đối xử với các công ty của Hoa Kỳ, dù trên pháp luật hay trên thực tế”.[33]DST là các loại thuế tính trên doanh thu của các công ty kỹ thuật số, thường áp dụng đối với các dịch vụ như quảng cáo trực tuyến, thương mại điện tử và mạng xã hội.[34] Hoa Kỳ cho rằng DST mà một số quốc gia áp dụng như Pháp, Canada mang tính phân biệt đối xử với các công ty nước ngoài, chủ yếu từ Hoa Kỳ.[35] Lời văn của hai hiệp định chỉ cấm đánh thuế DST gây ra phân biệt đối xử, mà không yêu cầu loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng.[36] Tuy nhiên, kể cả trong trường hợp DST áp dụng nhất quán cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và trong nước, cách thiết kế biện pháp chẳng hạn phạm vi dịch vụ số, phạm vi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ số, có thể tạo ra phân biệt đối xử trên thực tế và cấu thành vi phạm nghĩa vụ.[37]
Đối với thuận lợi hóa thương mại số, các hiệp định kế thừa nội dung của một số FTA thế hệ mới. Malaysia và Campuchia cam kết không áp dụng các biện pháp phân biệt đối xử với dịch vụ số và hàng hóa phân phối số của Hoa Kỳ,[38] cho phép dịch chuyển dữ liệu xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử nhằm mục đích kinh doanh,[39] và hợp tác với Hoa Kỳ xử lý các vấn đề an ninh mạng.[40] Malaysia bảo lưu quyền duy trì các biện pháp bảo vệ thích hợp đối với giao dịch dữ liệu xuyên biên giới, tức là doanh nghiệp của Hoa Kỳ vẫn phải tuân thủ yêu cầu về an ninh và quyền riêng tư của Malaysia khi xử lý dữ liệu xuất phát từ Malaysia.[41] Bảo lưu này tương tự như các cam kết quốc tế khác về thương mại điện tử của Malaysia trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).[42]
Đối với nghĩa vụ không đánh thuế quan trên các giao dịch truyền tải điện tử, USMART và USCART về cơ bản được xây dựng dựa trên nền tảng các chuẩn mực được thiết lập trong FTA thế hệ mới. Các bên, bao gồm cả Hoa Kỳ, cam kết không đánh thuế quan với giao dịch điện tử, ngoại trừ các loại thuế hoặc phí nội địa tuân thủ pháp luật của WTO. Đồng thời, các bên cam kết ủng hộ việc thông qua Thỏa thuận cấm áp thuế quan lên giao dịch điện tử trong WTO.[43]
Nghĩa vụ tham vấn trước khi ký kết các hiệp định thương mại số với bên thứ ba được xem là đòi hỏi cao và nổi bật so với các thỏa thuận thương mại hiện hành. Malaysia và Campuchia phải tham vấn với Hoa Kỳ trước khi ký kết các hiệp định thương mại số với một nước thứ ba mà có thể ảnh hưởng đến lợi ích thiết yếu của Hoa Kỳ.[44] Sự không rõ ràng về ý nghĩa của cụm từ “lợi ích thiết yếu” làm gia tăng chi phí và thời gian đàm phán với Hoa Kỳ trong bối cảnh số lượng các hiệp định thương mại số hoặc kinh tế số đang phát triển ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương,[45] chẳng hạn Hiệp định khung về kinh tế số ASEAN (DEFA) dự kiến ký kết trong năm 2026.
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, USMART yêu cầu Malaysia tích hợp toàn bộ ưu đãi theo các điều ước quốc tế hiện tại và tương lai mà nước này tham gia, trừ các cam kết trong khuôn khổ ASEAN.[46] Theo pháp luật của WTO, ưu đãi nội khối trong các FTA không cần mở rộng theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc.[47] Tuy nhiên, yêu cầu của Hoa Kỳ sẽ phá vỡ thế độc quyền thụ hưởng những ưu đãi này của bên thứ ba, chẳng hạn các nước trong CPTPP, để đưa Hoa Kỳ trở thành quốc gia được ưu đãi tốt nhất. Cam kết này có thể ảnh hưởng đến vị thế đàm phán của Malaysia với các đối tác trong tương lai vì nhượng bộ mở cửa thị trường dịch vụ của Malaysia không được duy trì độc quyền cho đối tác. Trong khi đó, Campuchia chỉ cam kết giữ nguyên hiện trạng thông qua không áp đặt các rào cản mới với nhà cung ứng dịch vụ của Hoa Kỳ tạo ra sự đối xử kém hơn so với nhà cung ứng dịch vụ trong nước hoặc một nước thứ ba.[48]
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, các hiệp định thương mại đối ứng chủ yếu điều chỉnh nghĩa vụ thuận lợi hóa đầu tư. Thuận lợi hóa đầu tư được hiểu là tập hợp các chính sách và quy định giúp nhà đầu tư thiết lập, mở rộng, vận hành kinh doanh một cách thuận lợi như minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phản hồi kịp thời và thiết lập điểm hỏi đáp.[49] Malaysia và Campuchia cam kết thuận lợi hóa đầu tư của Hoa Kỳ ở các ngành trọng điểm như khoáng sản thiết yếu, sản xuất điện, viễn thông, vận tải, dịch vụ hạ tầng.[50] Cam kết này của Malaysia giới hạn ở biện pháp của chính quyền cấp Trung ương và tuân thủ theo pháp luật nội địa.[51] Như vậy, các biện pháp thuận lợi hóa đầu tư của Hoa Kỳ không phải là nghĩa vụ của chính quyền cấp địa phương và phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật hiện hành của Malaysia, không tự động tạo ra ưu đãi hay ngoại lệ so với pháp luật trong nước. Không chỉ dừng lại ở thuận lợi hóa đầu tư, Campuchia còn cam kết nghĩa vụ đối xử quốc gia trong cấp phép các khoản đầu tư của Hoa Kỳ ở những lĩnh vực trọng yếu tương tự, và bảo hộ các khoản đầu tư đó theo tiêu chuẩn đối xử tối thiểu của pháp luật quốc tế.[52] Các nhà đầu tư Hoa Kỳ sẽ được đối xử công bằng với nhà đầu tư trong nước ngay từ giai đoạn phê duyệt dự án và không bị từ chối công lý trong các thủ tục tố tụng dân sự, hình sự, hành chính cũng như bảo hộ an toàn, an ninh đầy đủ.[53] Các cam kết trên cho thấy, Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến hoạt động đầu tư vào khai thác khoáng sản thiết yếu ở các nước Đông Nam Á, nhằm duy trì nguồn cung cho các ngành công nghiệp công nghệ cao trong nước.
Có thể thấy, bên cạnh số ít các nghĩa vụ kế thừa khuôn khổ WTO và FTA, hai hiệp định đối ứng thiết lập nhiều cam kết mới mang tính một chiều, chưa từng có trước đây cho Malaysia và Campuchia nhằm bảo vệ và thúc đẩy lợi ích thương mại, đầu tư của Hoa Kỳ trong khu vực.
3.3. Nghĩa vụ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (IP) giữ vai trò trung tâm trong chính sách đàm phán hiệp định thương mại của Hoa Kỳ vì các ngành công nghiệp dựa trên tài sản trí tuệ chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của nước này.[54]Tuy nhiên, hai hiệp định có phạm vi điều chỉnh về IP tương đối hẹp, chỉ tập trung vào chỉ dẫn địa lý (GI), chế tài thực thi trong nước, gia nhập và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan.[55] Malaysia và Campuchia cam kết chỉ bảo hộ GI khi đáp ứng các điều kiện nhất định về chất lượng, danh tiếng[56] và không hạn chế tiếp cận thị trường đối với phô mai và thịt nếu sử dụng tên gọi chung của nhóm sản phẩm.[57] Nghĩa vụ này bắt nguồn từ quan điểm của Hoa Kỳ cho rằng tên gọi thực phẩm đã được sử dụng rộng rãi và được người tiêu dùng hiểu như tên gọi chung của một loại sản phẩm thì không thể bị độc quyền hóa thông qua cơ chế bảo hộ GI.[58] Mặc dù Malaysia và Campuchia hiện chưa ký kết các FTA với EU liên quan đến bảo hộ GI, nhưng nghĩa vụ trên sẽ ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán, đóng khung một ngoại lệ cho hàng hóa của Hoa Kỳ bất kể các hiệp định với bên thứ ba có đưa ra cơ chế bảo hộ chặt chẽ đối với GI.
Về lao động, cả hai hiệp định yêu cầu Malaysia và Campuchia cam kết xử lý các vấn đề về quyền của người lao động ảnh hưởng đến tính đối ứng và bảo đảm các quyền cơ bản theo chuẩn mực của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), đặc biệt nhấn mạnh vào xóa bỏ lao động cưỡng bức.[59] Trong hai hiệp định, Hoa Kỳ yêu cầu đối tác cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất một phần hay toàn phần bởi lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc và phải hợp tác thực thi. Cam kết này là sự mở rộng các quy định đã có trong pháp luật nội địa của Hoa Kỳ, từ Mục 307 Đạo luật thuế quan năm 1930 cho tới Đạo luật ngăn chặn lao động cưỡng bức người Duy Ngô Nhĩ (UFLPA) năm 2021.[60] Theo đó, Hoa Kỳ đặt ra giả định có thể bác bỏ rằng hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo, toàn bộ hoặc một phần ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ, Tân Cương của Trung Quốc đều bị coi là có sử dụng lao động cưỡng bức và do đó bị cấm nhập khẩu.[61]
Tương tự, về môi trường, Malaysia và Campuchia cam kết giải quyết các vấn đề môi trường ảnh hưởng đến tính đối ứng, duy trì các biện pháp bảo vệ môi trường và thực thi hiệu quả pháp luật môi trường.[62] Những lĩnh vực môi trường được đề cập trực tiếp bao gồm khai thác gỗ trái phép, trợ cấp nghề cá, quản lý nghề cá bền vững và chống buôn bán động vật hoang dã.[63] Nhìn chung, những cam kết này về cơ bản tái khẳng định nghĩa vụ hiện có của Malaysia trong khuôn khổ các FTA như CPTPP, nhưng lại là cam kết lần đầu tiên của Campuchia về môi trường trong khuôn khổ một hiệp định thương mại.[64]
3.4. Nghĩa vụ về an ninh kinh tế, an ninh quốc gia và duy trì điều kiện thương mại
Trong bối cảnh chính sách thương mại của Hoa Kỳ được định hình bởi sự giao thoa giữa biến động địa chính trị, tái cấu trúc kinh tế trong nước và sức ép cạnh tranh toàn cầu, Hoa Kỳ thường viện dẫn mục tiêu bảo vệ an ninh quốc gia hoặc an ninh kinh tế để áp dụng các biện pháp thương mại đơn phương.[65] Quan điểm đương đại của Hoa Kỳ cho rằng an ninh kinh tế là năng lực bảo vệ, chống đỡ trước các hành vi của các thực thể bên ngoài nhằm gây xáo trộn, cưỡng chế hay thay đổi lập trường. Thành tố trung tâm của an ninh kinh tế là giảm sự phụ thuộc vào nước ngoài, tăng khả năng cạnh tranh chiến lược và năng lực nội sinh qua phát triển sản xuất trong nước.[66] Trước lo ngại về cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc và rủi ro chuỗi cung ứng, Hoa Kỳ không chỉ theo đuổi các chính sách để bảo vệ lợi ích trong nước mà còn chủ động kêu gọi đối tác đồng bộ chính sách nhằm tạo lập một trật tự kinh tế an toàn, ổn định.[67] Vì vậy, điểm khác biệt lớn của các hiệp định thương mại đối ứng so với FTA thông thường nằm ở sự bổ sung nhóm cam kết về an ninh kinh tế và quốc gia và điều kiện thương mại.
3.4.1. Nghĩa vụ về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia
Để bảo đảm an ninh kinh tế và an ninh quốc gia, hai hiệp định yêu cầu các nước đối tác phối hợp và đồng bộ chính sách với Hoa Kỳ, tập trung vào ba nhóm là: hạn chế xuất nhập khẩu, xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh và đàm phán hiệp định thương mại với bên thứ ba.
Thứ nhất, Malaysia và Campuchia sẽ áp dụng tương tự thuế quan nhập khẩu, biện pháp phi thuế quan và các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Hoa Kỳ với một nước thứ ba.[68] Malaysia có quyền đàm phán với Hoa Kỳ về lộ trình phù hợp để thực thi các biện pháp này, hướng đến xử lý các quan tâm chung về lợi ích an ninh hoặc kinh tế. Cam kết này được giải thích từ phía Malaysia là không bắt buộc chính phủ phải thay đổi pháp luật hiện hành theo Hoa Kỳ mà chỉ áp dụng khi xuất hiện tình huống ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và kinh tế của Malaysia và giúp Malaysia duy trì chính sách ngoại giao kinh tế trung lập.[69] Trong USCART, Campuchia bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu tương tự với Hoa Kỳ theo cách thức không xâm phạm đến lợi ích chủ quyền. Mặc dù cả hai hiệp định đều giữ lại quyền quyết định chính sách cho các bên, áp lực đồng bộ chính sách từ phía Hoa Kỳ là rõ ràng, đặc biệt khi điều khoản thực thi cho phép Hoa Kỳ đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa theo pháp luật nội địa.
Thứ hai, Hoa Kỳ yêu cầu ứng phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến từ các doanh nghiệp được sở hữu hoặc kiểm soát bởi nước thứ ba đang hoạt động tại Malaysia và Campuchia. Các hành vi ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của Hoa Kỳ bao gồm: xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ với giá thấp hơn giá thị trường, gia tăng bất thường lượng xuất khẩu vào Hoa Kỳ và làm suy giảm xuất khẩu của Hoa Kỳ vào thị trường đối tác hoặc sang thị trường nước thứ ba. Trong pháp luật thương mại quốc tế truyền thống, các quốc gia có quyền đơn phương tiến hành điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối kháng với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài nếu gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa ở hàng hóa tương tự.[70] Tuy nhiên, các hiệp định này đi xa hơn quy định của WTO khi đưa biện pháp phòng vệ thương mại trở thành nghĩa vụ phải hành động của các nước đối tác khi có thiệt hại xảy ra với ngành sản xuất nội địa của Hoa Kỳ. Quy định này được xây dựng trong bối cảnh Hoa Kỳ lo ngại các chính sách trợ cấp xuyên biên giới (transnational subsidy) áp dụng bởi Chính phủ Trung Quốc với doanh nghiệp trên lãnh thổ của một quốc gia khác, và tình trạng dư thừa năng lực sản xuất (overcapacity) của nước này làm gia tăng nguồn cung hàng hóa được trợ cấp.[71]
Thứ ba, các hiệp định thương mại đối ứng đưa vào điều khoản kiểm soát việc ký kết thỏa thuận thương mại với một nước thứ ba. Theo Điều 5.3.3 USMART, “nếu Malaysia ký kết một thỏa thuận thương mại tự do song phương hoặc thỏa thuận kinh tế ưu đãi mới với một nước mà gây phương hại lợi ích thiết yếu của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ có thể chấm dứt Hiệp định này và tái áp thuế đối ứng, nếu tham vấn với Malaysia không giải quyết được quan ngại.” Điều 5.3.3 của USCART nhắc đến tình huống tương tự nhưng không có quy định về tham vấn trước khi Hoa Kỳ chấm dứt Hiệp định. Điều khoản này thường được gọi là “viên thuốc độc” (poison pill) xuất hiện lần đầu trong Hiệp định Hoa Kỳ - Mexico - Canada (USMCA) với mục đích ngăn cản một nước thành viên ký kết FTA với một nước có nền kinh tế phi thị trường.[72] Với các điều kiện được định nghĩa rõ ràng về nước đối tác và thủ tục chặt chẽ, điều khoản này xuất hiện nhằm hạn chế Trung Quốc tiếp cận thị trường của các nước Bắc Mỹ.[73]Ngược lại, USMART và USCART không có định nghĩa về nước thứ ba, lợi ích thiết yếu của Hoa Kỳ hoặc mối đe dọa đáng kể, và quy trình kích hoạt, vì vậy làm gia tăng quyền tự quyết cho phía Hoa Kỳ trong giải thích và áp dụng điều khoản này. Theo nghiên cứu của Simon Evernett, có ba lý do chính khiến Hoa Kỳ đưa điều khoản này vào hai hiệp định thương mại đối ứng trên. Một là, điều khoản này tạo chi phí khiến Malaysia và Campuchia tránh ký kết FTA với các nước thứ ba đang cạnh tranh với Hoa Kỳ. Hai là, Hoa Kỳ đã nhượng bộ về thuế quan đối ứng và mong muốn được độc quyền các ưu đãi tiếp cận thị trường mà Malaysia và Campuchia đưa ra. Ba là, Hoa Kỳ muốn hạn chế doanh nghiệp Trung Quốc dùng Malaysia và Campuchia làm cầu nối thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài rồi tiếp cận thị trường của họ.[74] Các quốc gia như Malaysia và Campuchia có thể phải đối mặt với áp lực lớn trong việc đàm phán các thỏa thuận thương mại với các quốc gia thứ ba, vì phải cân nhắc phản ứng của Hoa Kỳ đối với các thỏa thuận đó.[75]
3.4.2. Nghĩa vụ về duy trì điều kiện thương mại
Bên cạnh các nghĩa vụ về an ninh kinh tế, Hoa Kỳ còn đặt ra yêu cầu duy trì điều kiện thương mại thông thường và cơ hội đầu tư. Cụ thể, Điều 6.2 của cả hai hiệp định yêu cầu Malaysia và Campuchia đảm bảo các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (SOE) vận hành trên cơ sở thương mại thuần túy và không phân biệt đối xử với hàng hóa, dịch vụ của Hoa Kỳ cũng như không nhận trợ cấp của nhà nước. Quan ngại của Hoa Kỳ bắt nguồn từ việc nhà nước có thể can thiệp vào các quyết định kinh doanh thông qua chỉ đạo hành chính hoặc trợ cấp phi thương mại, từ đó tạo ra lợi thế không công bằng cho SOE và gây bất lợi cho doanh nghiệp nước ngoài.[76] Quy định này phản ánh cách tiếp cận nhất quán của Hoa Kỳ trong nhiều FTA trước đó với các đối tác ở Bắc Mỹ và Châu Á như Hàn Quốc, Singapore.[77]
Mặc dù hai hiệp định đối ứng không có định nghĩa về “cân nhắc thương mại” hay “hỗ trợ phi thương mại”, giải thích trong các FTA trước đây của Hoa Kỳ có thể làm rõ nội hàm của các cam kết này. Cân nhắc thương mại được hiểu là các yếu tố thuần túy thương mại khi mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ, bao gồm giá cả thị trường, chất lượng, sự sẵn có, khả năng giao hàng và các điều khoản tương tự mà doanh nghiệp tư nhân thường xem xét. Hỗ trợ phi thương mại là các hình thức hỗ trợ dành riêng cho một số doanh nghiệp nhất định bao gồm chuyển giao trực tiếp quỹ hoặc khoản nợ, cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ đầu vào với giá dưới thị trường, thu mua hàng hóa đầu ra với giá cao hơn thị trường.[78] Mục đích Hoa Kỳ hướng đến là đảm bảo SOE hoạt động như doanh nghiệp tư nhân, cấm các hình thức trợ cấp từ chính phủ bóp méo cạnh tranh trong thương mại quốc tế.[79] Đặc biệt, hai hiệp định còn yêu cầu Malaysia và Campuchia đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp Hoa Kỳ với SOE của một nước thứ ba trên lãnh thổ của hai nước này. Với Campuchia, nghĩa vụ này chỉ giới hạn ở các quy định của Luật đầu tư nội địa, trong khi hiệp định với Malaysia không có giới hạn tương tự, tức là nghĩa vụ mở rộng ra toàn bộ hệ thống pháp luật trong nước.
IV. Sự hình thành một mô hình hiệp định thương mại mới và liên hệ với Việt Nam
4.1. Sự hình thành một mô hình hiệp định thương mại mới
Phân tích chi tiết nội dung của các hiệp định thương mại đối ứng nêu trên cho thấy sự hình thành một mô hình hiệp định thương mại mới khác biệt cả về thể chế và động lực so với khuôn mẫu WTO và các FTA. Các hiệp định này mang bốn đặc trưng cơ bản về nền tảng pháp lý, thiết kế nghĩa vụ, cơ chế thực thi và chức năng chính sách.
Thứ nhất, hiệp định thương mại đối ứng vận hành tương đối tách biệt khỏi khuôn khổ pháp lý và thể chế của WTO. Khác với các FTA truyền thống được thông báo và vận hành trên cơ sở Điều XXIV GATT và Điều V của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), các hiệp định này được xây dựng như một cơ chế song phương riêng, không gắn với các điều kiện, quy trình minh bạch hóa của WTO. Thuế đối ứng được Hoa Kỳ tính theo phần trăm trên trị giá hải quan của hàng hóa (ad valorem duty) vì vậy thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều I, II của GATT. Tuy nhiên, thuế đối ứng trong hai hiệp định kể trên mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản bao gồm đối xử tối huệ quốc, ràng buộc thuế quan và ngoại lệ về hội nhập kinh tế khu vực. Mức thuế đối ứng khác nhau mà Hoa Kỳ dành cho các nước đối tác, chẳng hạn 19% cho Malaysia và Campuchia và 20% cho Việt Nam, sẽ vi phạm nguyên tắc đối xử tối huệ quốc tại Điều I của GATT khi tất cả các nước ký kết đều là thành viên của WTO.[80] Ở chiều ngược lại, việc các nước đối tác dành ưu đãi thuế quan riêng cho hàng hóa của Hoa Kỳ mà không mở rộng cho các nước thành viên WTO khác cũng tiềm ẩn khả năng vi phạm nguyên tắc MFN và phát sinh tranh chấp trong điều kiện các hiệp định thương mại đối ứng không được ghi nhận là FTA theo nghĩa của GATT. Thuế đối ứng của Hoa Kỳ cũng vi phạm nguyên tắc ràng buộc thuế quan tại Điều II của GATT theo đó các nước thành viên không được tăng thuế quan vượt quá mức trong biểu cam kết.[81]
Mặc dù một số học giả cho rằng các hiệp định thương mại đối ứng này về bản chất là điều ước quốc tế do tính chất ràng buộc pháp lý, chúng không cấu thành các FTA theo nghĩa của Điều XXIV GATT.[82] Lý do là các hiệp định này không thỏa mãn yêu cầu dỡ bỏ gần như toàn bộ hàng rào thương mại nội khối bằng việc tăng thuế đối ứng và yêu cầu không gia tăng hàng rào thương mại với các nước ngoài khối bằng việc yêu cầu nước đối tác đồng bộ hóa chính sách hạn chế nhập khẩu với nước thứ ba.[83] Một số ngoại lệ khác trong GATT như ngoại lệ chung (Điều XX), ngoại lệ an ninh (Điều XXI) cũng khó áp dụng để hợp thức hóa thuế đối ứng vì có các điều kiện riêng biệt và chặt chẽ. Trên thực tế, nhiều ban hội thẩm trong WTO đã bác bỏ lập luận của Hoa Kỳ về mục tiêu bảo vệ an ninh quốc gia theo Điều XXI GATT của các chính sách tăng thuế nhập khẩu thép và nhôm trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump.[84]
Thứ hai, hiệp định thương mại đối ứng hướng đến sự cân xứng về cán cân thương mại nhưng lại bất cân xứng về quyền và nghĩa vụ pháp lý, chịu chi phối đáng kể bởi quy mô và cơ cấu thương mại giữa các nước tham gia. Trong khi WTO và các FTA nhấn mạnh nguyên tắc tối huệ quốc và sự cân bằng tương đối giữa quyền và nghĩa vụ của các thành viên, thì các hiệp định này tạo ra nhiều nghĩa vụ hơn cho các nước đối tác dựa trên khả năng áp thuế trừng phạt và sức ép mở cửa thị trường của Hoa Kỳ.[85] Thuế quan trở thành chế tài đối với vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào trong hiệp định, kể cả các cam kết phi thương mại như lao động hay môi trường.
Thứ ba, các cơ chế giám sát và bảo đảm thực thi trong các hiệp định thương mại đối ứng mang tính một chiều và không khách quan, chặt chẽ như nhiều FTA thế hệ mới. Các FTA hiện đại như CPTPP hay EVFTA thường có cơ chế giải quyết tranh chấp chuyên biệt, đa tầng, đa phương thức với cơ quan tài phán trung lập trong khi các hiệp định này nghiêng về mô hình hành pháp, đơn phương và không thể chế hóa sâu khi chỉ quy định duy nhất phương thức tham vấn nếu hoàn cảnh cho phép.[86] Xu hướng này phản ánh sự thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ từ giải quyết tranh chấp đa phương theo trật tự của WTO sang song phương trong khuôn khổ các thỏa thuận thương mại, và tăng cường sử dụng các biện pháp trả đũa đơn phương theo pháp luật nội địa để tạo sức ép thực thi nghĩa vụ.[87]
Thứ tư, các hiệp định thương mại đối ứng gắn chặt thương mại với các mục tiêu về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia. Theo đó, nhiều điều khoản hướng đến hạn chế rủi ro phụ thuộc quá mức vào các đối tác cụ thể, thúc đẩy sự đa dạng hóa chuỗi cung ứng, và kiểm soát luồng thương mại hàng hóa, dịch vụ lẫn công nghệ nhạy cảm cho phía Hoa Kỳ.[88]
Như vậy, hiệp định thương mại đối ứng không chỉ là một công cụ tự do hóa thương mại đơn thuần, mà là kênh để Hoa Kỳ điều phối thương mại quốc tế theo một lô-gíc an ninh kinh tế rộng, trong đó mục tiêu về ổn định, độc lập tương đối và an toàn chiến lược của nền kinh tế được đặt vào trung tâm của các cam kết thương mại song phương. Sự nhân rộng của mô hình này thông qua quá trình đàm phán song phương vẫn đang tiếp diễn của Hoa Kỳ làm suy yếu trật tự thương mại đa phương và khu vực hiện hành, thể hiện rõ tính chất định hướng chiến lược hơn là đơn thuần loại bỏ rào cản trong thương mại.
4.2. Liên hệ với Việt Nam trong bối cảnh đàm phán hiệp định thương mại đối ứng với Hoa Kỳ
Ngày 26/10/2025, Thông cáo chung về thỏa thuận thương mại đối ứng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được ban hành, xác lập các trụ cột cơ bản của một hiệp định thương mại song phương mới.[89] Về tổng thể, nội dung Thông cáo bao quát hai nhóm vấn đề lớn là tiếp cận thị trường và hợp tác chính sách, tương tự như USMART và USCART. Trong bối cảnh Hoa Kỳ tiến hành đàm phán với nhiều đối tác, hai hiệp định cho thấy một khuôn mẫu chung có thể điều chỉnh nhất định. Việc phân tích nội dung của hai hiệp định đầu tiên này vì vậy gợi mở nhiều hàm ý pháp lý cho Việt Nam. Tính đến tháng 2/2026, Việt Nam đã tham gia sáu vòng đàm phán kỹ thuật với Hoa Kỳ với nhiều lĩnh vực đạt được đồng thuận cao và đã đề xuất danh sách mặt hàng miễn trừ thuế đối ứng.[90]
So với các cam kết quốc tế hiện tại của Việt Nam, các hiệp định thương mại đối ứng chứa hai nhóm nghĩa vụ chính gồm nhóm cam kết nhắc lại hoặc tương tự như WTO và FTA và nhóm cam kết chưa có trong WTO và FTA.
Nhóm cam kết đầu tiên bao gồm các nghĩa vụ tương đồng với WTO và các FTA mà Việt Nam là thành viên, tập trung chủ yếu vào nghĩa vụ tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại. Những nghĩa vụ như xóa bỏ thuế quan, hạn chế số lượng, đơn giản hóa thủ tục hải quan, cấp phép nhập khẩu, công nhận và áp dụng tiêu chuẩn TBT/SPS, không đánh thuế hải quan trong thương mại số và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đã trở thành chuẩn mực trong hệ thống thương mại WTO. Trong lĩnh vực lao động và môi trường, Việt Nam đã chấp nhận nhiều cam kết tương tự trong CPTPP và EVFTA như cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức, chống khai thác gỗ trái phép, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.[91] Do đó, nhóm cam kết này nếu được đưa vào hiệp định với Việt Nam sẽ không tạo xung đột pháp lý đáng kể vì đã được nội luật hóa qua quá trình thực thi các FTA.
Nhóm cam kết thứ hai đưa vào nhiều nghĩa vụ mới, chưa có trong khuôn khổ WTO hay FTA hiện hành mà Việt Nam là thành viên, từ đó tạo nên một mô hình hiệp định lai giữa thương mại và an ninh. Là quốc gia hội nhập thương mại sâu rộng với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, những nghĩa vụ về bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh quốc gia và điều kiện thương mại thông thường đặt Việt Nam trước nhiều thách thức thực thi và duy trì quan hệ với các đối tác chiến lược. Chẳng hạn, nghĩa vụ đồng bộ hóa chính sách kiểm soát xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, hợp tác thực thi trừng phạt thương mại, thiết lập cơ chế sàng lọc đầu tư vì an ninh quốc gia, xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp một nước thứ ba ảnh hưởng đến Hoa Kỳ, tham vấn về việc ký kết hiệp định thương mại với một bên thứ ba, sẽ buộc đối tác phải điều chỉnh quy định nội địa theo hướng ưu tiên lợi ích của Hoa Kỳ. Đối với Việt Nam, việc chấp nhận nhóm cam kết này có thể xung đột trực tiếp với các nghĩa vụ trong khuôn khổ đa phương của WTO và khu vực hiện hành như Hiệp định thương mại tự do ASEAN -Trung Quốc hoặc RCEP. Chẳng hạn, nếu Việt Nam được yêu cầu áp dụng tương tự các biện pháp hạn chế nhập khẩu của Hoa Kỳ, hoặc dỡ bỏ các rào cản thương mại cho Hoa Kỳ nhưng không ưu đãi tương tự cho các nước khác, các biện pháp này tiềm ẩn rủi ro vi phạm nghĩa vụ về không phân biệt đối xử và phát sinh tranh chấp trong WTO. Mặt khác, nghĩa vụ xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp từ một nước thứ ba ảnh hưởng đến lợi ích thương mại của Hoa Kỳ, hay kiểm soát tình trạng chuyển khẩu hàng hóa nhằm lẩn tránh thuế quan của Hoa Kỳ tạo ra những áp lực về giám sát, theo dõi, thanh tra, dự báo cho cơ quan quản lý nhà nước.
Trước thực tế Hoa Kỳ có thể yêu cầu khuôn mẫu hiệp định tương tự, Việt Nam cần xác định một số ưu tiên trong đàm phán nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì tính linh hoạt trong chính sách kinh tế đối ngoại.
Một là, đối với nội dung đàm phán, Việt Nam nên giới hạn phạm vi các nghĩa vụ, chẳng hạn nghĩa vụ hợp tác và đồng bộ chính sách, nghĩa vụ xóa bỏ các biện pháp ảnh hưởng tính đối ứng. Việc Hoa Kỳ mở rộng thái quá mục tiêu an ninh quốc gia sang các lĩnh vực kinh tế, công nghệ có thể kéo theo phạm vi các nghĩa vụ hợp tác và đồng bộ chính sách trở nên rất rộng.[92] Như đã phân tích ở mục 3.4, nghĩa vụ đồng bộ chính sách ở một số lĩnh vực như hạn chế xuất nhập khẩu, trừng phạt và xử lý cạnh tranh không lành mạnh tiềm ẩn rủi ro vi phạm pháp luật WTO hoặc FTA với các nước thứ ba. Vì vậy, những nghĩa vụ này cần xây dựng theo hướng chỉ áp dụng cho danh mục sản phẩm, ngành công nghiệp được hai bên thống nhất trong phụ lục, tuân thủ quy định pháp luật nội địa và nghĩa vụ quốc tế hiện hành, hoặc thỏa thuận trong từng trường hợp cụ thể. Cách tiếp cận đó giữ quyền linh hoạt điều chỉnh chính sách mà không từ chối hoàn toàn việc hợp tác. Tương tự, các bên nên rà soát, làm rõ danh sách các biện pháp kỹ thuật (TBT, SPS), các quy định về lao động và môi trường, mà Hoa Kỳ cho rằng là trùng lặp, không cần thiết, không thể biện minh hoặc ảnh hưởng đến tính đối ứng trong thương mại để việc thực thi dễ dự đoán hơn.
Hai là, đối với cách thức soạn thảo, dù dựa trên một khuôn mẫu chung, các hiệp định thương mại đối ứng vẫn chứa các cụm từ linh hoạt hoặc bảo lưu quan trọng mà Việt Nam có thể tham khảo từ kinh nghiệm của USMART và USCART như “nỗ lực thực hiện”, “tuân thủ theo pháp luật và quy định nội địa”, “khi thích hợp”, “nhất quán với hoặc không ảnh hưởng đến quyền chủ quyền” để tạo sự mềm dẻo, giảm thiểu rủi ro thực thi. Ngoài ra, Việt Nam nên đàm phán điều khoản bảo lưu ghi nhận quyền và nghĩa vụ của thành viên WTO tương tự như Điều 7.1 USMART, hoặc mở rộng ra cả các FTA: “không điều khoản nào trong hiệp định làm hạn chế hoặc loại bỏ quyền và nghĩa vụ của các bên trong WTO và các hiệp định thương mại hiện có” để cụ thể hóa bối cảnh giải thích các nghĩa vụ. Sự dẫn chiếu này hàm ý rằng các nghĩa vụ trong hiệp định thương mại đối ứng cần được giải thích và áp dụng trong mối quan hệ hài hòa với khuôn khổ pháp luật WTO và các FTA.
Ba là, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược phòng ngừa và ứng phó song song với các công cụ pháp luật nội địa của Hoa Kỳ và tiến trình đàm phán hiệp định thương mại đối ứng, trong đó hai kênh này không tách rời mà hỗ trợ lẫn nhau. Trước thực tế thuế đối ứng theo IEEPA đã bị Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên không có hiệu lực,[93] các chế tài theo Mục 301 Đạo luật thương mại năm 1974 hoặc Mục 232 Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 có khả năng được sử dụng như đòn bẩy thay thế.[94] Nói cách khác, các mức thuế mới theo Mục 301 hoặc Mục 232 có thể thay thế cho thuế quan 10% theo Mục 122 mà Hoa Kỳ đang áp dụng tạm thời trong 150 ngày. Vì vậy, Việt Nam nên nghiên cứu khả năng tích hợp các cam kết, cơ chế hợp tác, và nghĩa vụ minh bạch đã được thống nhất trong hiệp định trở thành đòn bẩy pháp lý để thuyết phục Hoa Kỳ chấm dứt hoặc hạn chế các cuộc điều tra thương mại đơn phương, bởi các cam kết trong hiệp định sẽ tạo ra một khuôn khổ hợp tác, giám sát, và điều chỉnh hành vi thương mại ổn định, có tính dự đoán cao. Việt Nam có thể đàm phán với Hoa Kỳ về việc xóa bỏ hoặc cam kết mức thuế trần theo Mục 232 hoặc Mục 301 nếu có phát sinh, tương tự như cách mà EU và Hàn Quốc đã đạt được giới hạn 15%.[95] Cách tiếp cận này tạo ra một biên độ đánh thuế dễ dự báo và ổn định hơn cho Việt Nam trong bối cảnh Hoa Kỳ gia tăng điều tra theo Mục 301 và Mục 232.
V. Kết luận
Sự xuất hiện của các hiệp định thương mại đối ứng cho thấy xu hướng chuyển dịch từ tự do hóa thương mại thuần túy sang gắn chặt thương mại với an ninh kinh tế. Thuế quan không còn đơn thuần là công cụ mở cửa thị trường mà trở thành đòn bẩy chiến lược nhằm định hướng chính sách thương mại của đối tác. Mô hình mới này đặt ra thách thức về đảm bảo tính tương thích với các nghĩa vụ quốc tế và không gian chính sách quốc gia. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần duy trì sự cân bằng giữa hợp tác chiến lược với lợi ích quốc gia, thông qua các kỹ thuật đàm phán và điều khoản được thiết kế rõ ràng, linh hoạt./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiệp định thương mại đối ứng Hoa Kỳ - Malaysia (USMART).
2. Hiệp định thương mại đối ứng Hoa Kỳ - Campuchia (USCART).
3. Hiệp định Hoa Kỳ - Mexico - Canada (USMCA).
4. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
5. Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).
6. Đạo luật Thuế quan năm 1974.
7. Đạo luật Quyền lực kinh tế khẩn cấp quốc tế năm 1977.
8. Jeffrey L. Dunoff, Mark A. Pollack, The Trump Administration’s Trade Policy and the International Trading System, American Journal of International Law, Vol.119(4), (2025).
9. Judijanto, L., Recalibrating Reciprocity: Strategic Implications of the 2025 Indonesia-United States Reciprocal Trade Agreement for Economic Sovereignty and National Resilience, European Journal of Management, Economics and Business, 2(6), (2025).
10. Joost Pauwelyn, How the US Reciprocal Tariff Plan May Save the Global Trading System, World Trade Review, Vol. 24(4), (2025).
11. Gil Lan, The "Poison Pill" in the USMCA: The Erosion of WTO Principles and its Implications under a US-China Trade War, Vanderbilt Journal of Transnational Law, Vol 53(4), (2021).
12. Guang Ma, Hong Wu, The Illegality of Follow‑Up Agreements Arising from Reciprocal Tariffs: An International Trade Law Analysis, 17 J. Int’l Disp. Settlement 1, (2026).
13. Henry Gao, From Great “Liberator” to “Landlord Seeking Rent”: The Implications of U.S. Reciprocal Tariffs Policy in Asia and Beyond, American Journal of International Law, Volume 119, Issue 4, (2025).
14. Mavroidis, Petros C., Reciprocal Tariffs in the Quest for Balanced Trade: A Zero-Sum Game for the WTO,Quebec Journal of International Law, 113 (2025).
15. Supreme Court of the United States, Learning Resources, Inc v Trump, (2026), https://www.supremecourt.gov/opinions/25pdf/24-1287_4gcj.pdf.
[*] Khoa Pháp luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội. Email: ngotrongquan@hlu.edu.vn, ngày duyệt đăng 29/04/2026.
[**] Công ty Luật TNHH RHTLaw Việt Nam. Email: phung.nguyen@rhtlaw.com.vn.
[1] The White House, Memorandum on Reciprocal Trade and Tariffs, (13/02/2025), https://www.whitehouse.gov/articles/2025/02/reciprocal-trade-and-tariffs.
[2] Donald J. Trump, Executive Order: Regulating Imports with a Reciprocal Tariff to Rectify Trade Practices that Contribute to Large and Persistent Annual United States Goods Trade Deficits, (02/04/2025), https://ustr.gov/trade-topics/presidential-tariff-actions.
[3] Nguyên tắc này không hiểu theo nghĩa cân bằng tuyệt đối về mặt số học, mà có thể đạt được thông qua thỏa thuận. Xem Mavroidis, Petros C., Reciprocal Tariffs in the Quest for Balanced Trade: A Zero-Sum Game for the WTO, Quebec Journal of International Law, 113 (2025).
[4] Judijanto, L., Recalibrating Reciprocity: Strategic Implications of the 2025 Indonesia-United States Reciprocal Trade Agreement for Economic Sovereignty and National Resilience, European Journal of Management, Economics and Business, 2(6), 244 (2025).
[5] Kenneth W. Dam, Cordell Hull, the Reciprocal Trade Agreements Act, and the WTO: An Essay on the Concept of Rights in International Trade, New York University Journal of Law and Business, Vol.1, 712 (2005).
[6] Richard Baldwin, Giorgio Barba Navaretti, US misuse of tariff reciprocity and what the world should do about it, (2025), https://cepr.org/voxeu/columns/us-misuse-tariff-reciprocity-and-what-world-should-do-about-it.
[7] The White House, tlđd, 1.
[8] USTR, The 2026 Trade Policy Agenda and 2025 Annual Report of the President of the United States on the Trade Agreements Program, (02/2026), https://ustr.gov/sites/default/files/files/Press/Releases/2026/2026%20Trade%20Policy%20Agenda%202025%20Annual%20Report.pdf.
[9] Daniel C.K. Chow, Ian Sheldon, Is Strict Reciprocity Required for Fair Trade, Vanderbilt Journal of Transnational Law, Vol. 52(1), 1-9 (2019).
[10] Joost Pauwelyn, How the US Reciprocal Tariff Plan May Save the Global Trading System, World Trade Review, Vol. 24(4), 2 (2025).
[11] NEA, Điều 201 và IEEPA, Điều 1701-1703.
[12] Mục 301 cho phép đánh thuế đối kháng lại các hành vi, chính sách cạnh tranh không lành mạnh của nước ngoài. Mục 232 cho phép đánh thuế với hàng hóa nhập khẩu ảnh hưởng đến an ninh quốc gia theo cách hiểu rộng, bao gồm cả năng lực sản xuất và quốc phòng. Xem Ben Budner, The Questionable Legality of IEEPA Tariffs: Does the Major Questions Doctrine Apply, Texas Law Review, Vol. 104(1), 215-217 (2025).
[13] The White House, Fact Sheet: President Donald J. Trump Secures Peace And Prosperity In Malaysia, (26/10/2025) https://www.whitehouse.gov/fact-sheets/2025/10/fact-sheet-president-donald-j-trump-secures-peace-and-prosperity-in-malaysia/.
[14] USTR, tlđd, 8, 2-5.
[15] Khác với các FTA thường thiết lập quy tắc xuất xứ phức tạp để hạn chế lạm dụng ưu đãi thuế quan, hai hiệp định hiện tại chỉ đưa ra nguyên tắc chung là các lợi ích thương mại phát sinh từ hiệp định phải dành cho các nước thành viên và để mở khả năng một trong hai bên sẽ thiết lập các quy tắc xuất xứ mới để điều chỉnh lại tác động thương mại. Xem USMART và USCART, Điều 4.1.
[16] EO 14326 ngày 31/07/2025, Phụ lục I và EO 14346 ngày 05/09/2025, Phụ lục II quy định về phạm vi các mặt hàng có thể đàm phán 0% với các nước đối tác, chi tiết tùy thuộc vào quốc gia.
[17] USMART và USCART, Biểu cam kết 2.
[18] USCART và USMART, Phụ lục I: Biểu cam kết 1.
[19] USMART, Điều 2.12.1 và USCART, Điều 2.11.1.
[20] Driessen, Grant A., Keightley, Mark P., Border-Adjusted Consumption Taxes and Exchange Rate Movements: Theory and Evidence, Congressional Research Service Report (18/04/2017), https://www.congress.gov/crs-product/R44821.
[21] USMART, Điều 2.12.2 và USCART, Điều 2.11.2. Cụ thể, USMART quy định nghĩa vụ này cho cả phía Hoa Kỳ, trong khi USCART chỉ yêu cầu với phía Campuchia.
[22] Khor, M.. US’ protectionist border adjustment tax plan likely WTO-illegal. Third World Resurgence, (2017), https://twn.my/title2/resurgence/2017/317-318/cover05.htm
[23] United States – Tax Treatment for “Foreign Sales Corporations” (DS108), Appellate Body Report, đoạn 111-120.
[24] USMART, Điều 2.12.3 và USCART, Điều 2.11.3.
[25] Canada – Autos, Appellate Body Report, đoạn 78; Japan - Taxes on Alcoholic Beverages II, Appellate Body Report, tr. 29.
[26] USCART, Điều 1.2 và USMART, Điều 1.2.
[27] Chẳng hạn, ngoại lệ chung (Điều XX), ngoại lệ an ninh (Điều XXI), ngoại lệ về biện pháp tự vệ thương mại (Điều XIX), ngoại lệ cán cân thanh toán (Điều XII) trong GATT.
[28] USMART, Phụ lục III, Điều 6.2.1.
[29] Organization for Economic Cooperation and Development (OECD), OECD Inventory of Export Restrictions on Industrial Raw Materials 2025: Monitoring the Use of Export Restrictions Amid Growing Market and Policy Tensions, OECD Publishing, 4-6 (2025).
[30] Donald J. Trump, Presidential Proclamation: Adjusting Imports Of Processed Critical Minerals And Their Derivative Products Into The United States, (14/01/2026), https://www.whitehouse.gov/presidential-actions/2026/01/adjusting-imports-of-processed-critical-minerals-and-their-derivative-products-into-the-united-states/; và Sullivan & Cromwell LLP, Energy Transition Insights: The United States Reaches Critical Minerals-Related Agreements with Japan, Malaysia, Thailand and China, (2025), https://www.sullcrom.com/insights/memo/2025/November/US-Reaches-Critical-Minerals-Related-Agreements-Japan-Malaysia-Thailand-China.
[31] Nghĩa vụ không phân biệt đối xử và không tạo ra rào cản thương mại trá hình tương tự như Điều 2.1 Hiệp định TBT và Điều 2.3 Hiệp định SPS.
[32] López González, J. and M. Jouanjean, Digital Trade: Developing a Framework for Analysis, OECD Trade Policy Papers, No. 205, 12 (2017).
[33] USMART và USCART, Điều 3.1
[34] Jane G. Gravelle, The OECD/G20 Pillar 1 and Digital Services Taxes: A Comparison, Congressional Research Service Report, 4 (2024).
[35] Jane G. Gravelle, tlđd, 34, 8; USTR, United States Requests USMCA Dispute Settlement Consultation on Canada’s Digital Services Tax,(30/08/2024), https://ustr.gov/about-us/policy-offices/press-office/press-releases/2024/august/united-states-requests-usmca-dispute-settlement-consultations-canadas-digital-services-tax.
[36] Ministry of Investment, Trade and Industry (MITI) of Malaysia, Frequently asked questions about the Malaysia – USA’s Agreement on Reciprocal Trade, 7 (2025), https://www.miti.gov.my/ART.
[37] Okanga Ogbu Okanga, Testing for Consistency: Certain Digital Tax Measures and WTO Non-Discrimination, Journal of World Trade, Vol. 55(1), 101-126 (2021).
[38] USMART, Điều 3.2 (a) và USCART, Điều 3.2; Malaysia bảo lưu quyền điều chỉnh các vấn đề liên quan đến lợi ích công cộng, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, trong khi hiệp định với Campuchia không có ngoại lệ này.
[39] USMART, Điều 3.2 (b) và USCART, Điều 3.2.
[40] USMART, Điều 3.2 (c) và USCART, Điều 3.2.
[41] MITI of Malaysia, tlđd, 36, 11.
[42] CPTPP, Điều 14.11 và RCEP, Điều 12.15. Xem Kelsey, J., Opportunities and Challenges for ASEAN and East Asia from the Regional Comprehensive Economic Partnership on E-Commerce, Economic Research Institute for ASEAN and East Asia, 137-138 (2022).
[43] USMART, Điều 3.5 và USCART, Điều 3.5.
[44] USMART và USCART, Điều 3.3.
[45] Nextrade Group and The Asia Foundation, Digital Trade and Digital Economy Agreements in Asia and the Pacific, 23 (2024), https://asiafoundation.org/wp-content/uploads/2024/05/Digital-Trade-Agreements-in-Asia-and-the-Pacific_Tech-Policy.pdf.
[46] USMART, Điều 2.7.
[47] GATS, Điều V.
[48] USCART, Điều 2.6.
[49] UNCTAD, Investment Facilitation: The Perfect Match for Investment Promotion, IPA Observer, 2 (2017).
[50] USMART và USCART, Điều 6.1.1.
[51] USMART, Điều 6.1.1.
[52] USCART, Điều 6.1.1
[53] Nội hàm của tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong pháp luật quốc tế được làm rõ trong các hiệp định đầu tư của Hoa Kỳ, chẳng hạn Điều 14.6 USMCA.
[54] Akhtar, Shayerah I., Wong, Liana, Intellectual Property Rights (IPR) and U.S. Trade Policy, (17/01/2025), https://www.congress.gov/crs-product/IF10033.
[55] USMART, Điều 2.6 và USCART, Điều 2.5.
[56] USMART, Điều 2.4 và USCART, Điều 2.3.
[57] USMART, Điều 2.5 và USCART, Điều 2.4.
[58] Sara Evans, Trademarking Terroir: Geographical Indications as a Form of Cultural Property in the U.S.-EU Trade War, Chicago Journal of International Law, Vol. 26(1), 410-411 (2025); Enrico Bonadio, Magali Contardi, Nicola Lucchi, Geographical Indications Between the Old World and the New World, and the Impact of Migration, GRUR International, Vol. 73(1), 5-7 (2024).
[59] USMART, Điều 2.9.2 và USCART, Điều 2.8.2. Xem Mark Eskenazi, In Southeast Asia Trade Agreements, U.S. Is Poised to Set New Labour Standards, (29/10/2025), https://www.jdsupra.com/legalnews/in-southeast-asia-trade-agreements-u-s-9457202/.
[60] Casey, Christopher A.; Cimino-Isaacs, Cathleen D.; Weber, Michael A., Section 307 and U.S. Imports of Products of Forced Labor: Overview and Issues for Congress, (21/05/2021), https://www.congress.gov/crs-product/R46631.
[61] UFLPA, Mục 3(a)-(b).
[62] USMART, Điều 2.10 và USCART, Điều 2.9.
[63] USMART, Điều 2.25, 2.28 và 2.29; USCART, Điều 1.19, 1.22 và 1.23.
[64] Trước USCART, Campuchia không có cam kết độc lập về lao động hoặc môi trường trong các FTA. Xem toàn văn các FTA của Campuchia tại https://ftaportal.moc.gov.kh/en/agreements.
[65] Vụ Phát triển Thị trường Nước Ngoài, Nghiên cứu chính sách thương mại của Chính quyền Hoa Kỳ - Nhiệm kỳ mới tác động đến kinh tế thương mại Việt Nam năm 2025, Nhà Xuất bản Công thương, 43-44 (2025).
[66] Emily Benson et al., Toward a U.S. Economic Security Strategy: Twenty-first-Century Guidance for Domestic and International Policymaking, tr. 3-4, Center for Strategic and International Studies (2024), https://csis-website-prod.s3.amazonaws.com/s3fs-public/2024-07/240709_Benson_Economic_Security.pdf.
[67] Emily Kilcrease and Geoffrey Gertz, Economic Security in North America: Recommendations for the USMCA Review, Center for a New American Security Working Paper, 7 (2025).
[68] USMART yêu cầu Malaysia đồng bộ tất cả các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đơn phương của Hoa Kỳ, trong khi USCART ràng buộc Campuchia đồng bộ các biện pháp phù hợp, tùy từng trường hợp, theo yêu cầu của Hoa Kỳ.
[69] MITI of Malaysia, tlđd 36, 3.
[70] Hiệp định về chống bán phá giá (ADA), Điều 3 và 5; Hiệp định SCM, Điều 9, 11, 15 và 19.
[71] USTR, 2024 Report to Congress on China's WTO Compliance, 37-41 (2025).
[72] USCMA, Điều 32.10 quy định về FTA với nền kinh tế phi thị trường.
[73] Gil Lan, The "Poison Pill" in the USMCA: The Erosion of WTO Principles and its Implications under a US-China Trade War, Vanderbilt Journal of Transnational Law, Vol 53(4), 1325-1326 (2021).
[74] Simon J. Evenett, Can Trading Partners Still Hedge? U.S. Poison Pills and the Limits of Dual Engagement, Global Trade Alert, Zeitgeist Series, Briefing #77, 5-6 (2025).
[75] Simon J. Evenett, tlđd, 74, 7.
[76] USTR, The 2024 National Trade Estimate Report on Foreign Trade Barriers, 80 (2024).
[77] USMCA, Chương 22; US-Singapore FTA, Chương 12; US – Korea FTA, Chương 16; CPTPP (tiền thân là TPP với sự tham gia của Hoa Kỳ) có Chương 17 quy định về SOE tương tự như các FTA trên.
[78] USMCA, Điều 22.1 và CPTPP, Điều 17.1.
[79] USMART dành ngoại lệ về trợ cấp cho SOE để thực hiện dịch vụ công của nhà nước theo Điều 6.2.1.
[80] Henry Gao, From Great “Liberator” to “Landlord Seeking Rent”: The Implications of U.S. Reciprocal Tariffs Policy in Asia and Beyond, American Journal of International Law, Volume 119, Issue 4, 719-720 (2025).
[81] Jeffrey L. Dunoff, Mark A. Pollack, The Trump Administration’s Trade Policy and the International Trading System, American Journal of International Law, Vol.119(4), 698 (2025).
[82] Định nghĩa về điều ước quốc tế nằm trong Điều 2.1.a của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 như sau: “Điều ước quốc tế là một thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữa các quốc gia và chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc tế bất kể được chứa đựng trong một hay nhiều văn kiện có liên quan và tên gọi của chúng.” Xem thêm Guang Ma, Hong Wu, The Illegality of Follow‑Up Agreements Arising from Reciprocal Tariffs: An International Trade Law Analysis, 17 J. Int’l Disp. Settlement 1, 12–13 (2026).
[83] Henry Gao, tlđd 80, 720.
[84] Ví dụ, tranh chấp DS544: United States - Certain Measures on Steel and Aluminium Products và tranh chấp DS556: United States - Certain Measures on Steel and Aluminium Products.
[85] Hoa Kỳ sẽ áp dụng các biện pháp trả đũa đơn phương theo pháp luật nội địa nếu các nước đối tác không thực thi hiệp định. Xem USMART, Điều 7.4 và USCART, Điều 7.3.
[86] USMART, Điều 7.4.2 và USCART, Điều 7.3.
[87] Ian Sheldon and Daniel C. K. Chow, The future of dispute resolution in international trade, Applied Economic Perspectives and Policy, Vol. 47(4), 1345-1350 (2025). Thực tế, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra và áp thuế theo Mục 301 Đạo luật thuế quan năm 1974 và Mục 232 Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 đối với nhiều hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tạo sức ép Trung Quốc thay đổi chính sách hoặc nhượng bộ thương mại. Xem Richard O. Cunningham, Leverage Is Everything: Understanding the Trump Administration's Linkage between Trade Agreements and Unilateral Import Restrictions, Case Western Reserve Journal of International Law, Volume 51, Issue 1, 50-52 (2019).
[88] USMART và USCART, Mục 5.
[89] The White House, Joint Statement on a United States – Vietnam Framework for an agreement on reciprocal, fair, and balanced trade, (26/10/2025), https://www.whitehouse.gov/briefings-statements/2025/10/joint-statement-on-united-states-vietnam-framework-for-an-agreement-on-reciprocal-fair-and-balanced-trade/.
[90] Quang Minh, Quan chức Mỹ: Đàm phán Hiệp định thương mại Việt–Mỹ bước vào giai đoạn quyết định, Nhà đầu tư (20/02/2026), https://nhadautu.vn/quan-chuc-my-dam-phan-hiep-dinh-thuong-mai-viet--my-buoc-vao-giai-doan-quyet-dinh-d103055.html.
[91] CPTPP, Chương 19 và 20; EVFTA, Chương 13.
[92] Guang Ma, Hong Wu, The proliferation of unilateral trade measures and the crisis of the multilateral trading system, Journal of International Dispute Settlement, Volume 16(3), 18-19 (2025).
[93] Supreme Court of the United States, Learning Resources, Inc v Trump, Opinion of Roberts, C.J, 20 (2026),https://www.supremecourt.gov/opinions/25pdf/24-1287_4gcj.pdf.
[94] Trên thực tế, Hoa Kỳ đã bắt đầu khởi xướng các cuộc điều tra theo Mục 301(b) của Đạo luật thương mại năm 1974 về tình trạng dư thừa công suất trong các ngành chế biến ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Campuchia, Malaysia và Việt Nam. Xem USTR, Relating to Structural Excess Capacity and Production in Manufacturing Sectors, (11/03/2026), https://ustr.gov/about/policy-offices/press-office/press-releases/2026/march/ustr-initiates-section-301-investigations-relating-structural-excess-capacity-and-production.
[95] Inu Manak, Allison Smith, Tracking Trump’s Trade Deals, Council on Foreign Relations (16/3/2026), https://www.cfr.org/articles/tracking-trumps-trade-deals.